Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

————————————

Số: 4010/2024/DS-ST

Ngày: 27/8/2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Hương
  2. Bà Bùi Thị Phụng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Võ Cao Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 14/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 01 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5710/2024/QĐXXST–DS ngày 31 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
  2. Địa chỉ: H L, quận Đ, Thành phố Hà Nội.

    Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Thanh N – Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 3148/7/2024/UQ-VPBANK ngày 01/7/2024). (vắng mặt)

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Trọng N1, sinh năm: 1990.
  4. Địa chỉ: H đường A, khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V có người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị Thanh N trình bày:
  2. Ngày 27/12/2019, ông Nguyễn Trọng N1 ký Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ để vay tiền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V. Căn cứ thu nhập của ông N1, ngân hàng cấp tín dụng cho ông N1 vay số tiền là 190.000.000 đồng, mục đích là tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn là 22%/năm, thời hạn vay là 60 tháng.

    Sau khi được cấp tín dụng, ông N1 đã thanh toán nợ gốc là 65.330.008 đồng, tiền lãi là 82.147.696 đồng. Từ tháng 8/2022, ông N1 không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông N1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Từ tháng 6/2022, ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn.

    Nay, ngân hàng yêu cầu ông N1 thanh toán số tiền còn nợ của hợp đồng tín dụng ngày 27/12/2019 tạm tính đến ngày 27/8/2024 là 223.522.340 đồng, bao gồm: nợ gốc là 124.669.992 đồng và nợ lãi là 98.852.348 đồng; và tiền lãi tiếp tục phát sinh từ ngày 28/8/2024 theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong nợ. Thanh toán 1 lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Ngân hàng yêu cầu một mình ông N1 thanh toán tiền nợ, không yêu cầu trách nhiệm liên đới trả nợ đối với vợ ông N1 (nếu có).

  3. Quá trình tham gia tố tụng, bị đơn ông Nguyễn Trọng N1 trình bày:
  4. Ông xác nhận ngày 27/12/2019 ký Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ để vay tiền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V. Ông vay số tiền 190.000.000 đồng, để sử dụng sinh hoạt cá nhân, lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng.

    Trong quá trình vay, ông đã thanh toán được nợ gốc là 65.330.008 đồng, tiền lãi là 82.147.696 đồng. Tôi xác nhận số tiền còn nợ ngân hàng đến ngày 27/8/2024 là 223.522.340 đồng, bao gồm: nợ gốc là 124.669.992 đồng và nợ lãi là 98.852.348 đồng. Tôi đồng ý trả nợ cho ngân hàng nhưng do đang gặp khó khăn nên đề nghị được trả trong thời hạn 06 tháng.

    Khoản vay này không liên quan đến vợ tôi là Cao Thị Kiều G.

  5. Đại diện Viện kiểm sát thành phố T trình bày quan điểm về giải quyết vụ án:
  6. - Từ khi thụ lý cho đến khi xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tuân thủ đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

    - Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V là có căn cứ và hợp pháp, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại tòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản, căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì bị đơn ông Nguyễn Trọng N1 có nơi cư trú tại thành phố T nên đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V và bị đơn ông Nguyễn Trọng N1 có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Ngân hàng Thương mại Cổ phần V và ông N1.

[2]. Về nội dung: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Trọng N1 thanh toán tổng số tiền còn nợ của Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 27/12/2019, tính đến ngày 27/8/2024 là 223.522.340 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 28/8/2024 đến khi thanh toán xong nợ.

Hội đồng xét xử xét thấy: Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 27/12/2019; căn cứ vào lời khai của đương sự cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Ngày 27/12/2019, Ngân hàng Thương mại Cổ phần V cấp tín dụng cho ông Nguyễn Trọng N1 vay số tiền 190.000.000 đồng, mục đích là tiêu dùng cá nhân, lãi suất theo quy định tại hợp đồng, thời hạn vay là 60 tháng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông N1 đã thanh toán được nợ gốc là 65.330.008 đồng, nợ lãi là 82.147.696 đồng. Ông N1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên từ tháng 6/2022, ngân hàng chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 27/8/2024, ông N1 còn nợ tiền gốc là 124.669.992 đồng và nợ lãi là 98.852.348 đồng.

Trong hợp đồng tín dụng các bên đã thỏa thuận thời hạn thanh toán nợ gốc và lãi, thỏa thuận về lãi suất theo biểu lãi suất của ngân hàng, bị đơn không thanh toán tiền nợ gốc và lãi theo thời hạn đã thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ. Việc vi phạm của bị đơn trong một thời gian dài đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Do đó, bị đơn đề nghị được trả số tiền nợ trong thời hạn 06 tháng là không có cơ sở chấp nhận. Xem xét yêu cầu trả tiền nợ gốc, tiền lãi của ngân hàng là phù hợp thỏa thuận được quy định trong hợp đồng và phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 463; Điều 466 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng.

Từ những nhận định trên và căn cứ vào lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V, buộc ông Nguyễn Trọng N1 phải thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền còn nợ của Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 27/12/2019, tạm tính đến ngày 27/8/2024 là 223.522.340 đồng và tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc theo lãi suất quy định trong hợp đồng tín dụng sau ngày xét xử đến khi thanh toán xong nợ.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Trọng N1 phải chịu án phí trên số tiền 223.522.340 đồng phải trả cho nguyên đơn. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ Điều 463; Điều 466; Điều 688 Bộ luật Dân sự;
  • Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;
  • Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
  2. Buộc ông Nguyễn Trọng N1 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V tổng số tiền còn nợ của Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 27/12/2019, tính đến ngày 27/8/2024 là 223.522.340 (Hai trăm hai mươi ba triệu năm trăm hai mươi hai nghìn ba trăm bốn mươi) đồng; trong đó: nợ gốc là 124.669.992 (Một trăm hai mươi bốn triệu sáu trăm sáu mươi chín nghìn chín trăm chín mươi hai) đồng, nợ lãi là 98.852.348 (Chín mươi tám triệu tám trăm năm mươi hai nghìn ba trăm bốn mươi tám) đồng.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Ông Nguyễn Trọng N1 phải chịu là 11.176.117 (Mười một triệu một trăm bảy mươi sáu nghìn một trăm mười bảy) đồng.
    2. H lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền tạm ứng án phí đã nộp đã nộp là 4.162.697 (Bốn triệu một trăm sáu mươi hai nghìn sáu trăm chín mươi bảy) đồng theo biên lai thu số 0000254 ngày 29/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cần thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Quyền kháng cáo:
  2. Ngân hàng Thương mại Cổ phần V, ông Nguyễn Trọng N1 vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - THA DS TP. Thủ Đức;
  • - TATP;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4010/2024/DS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 4010/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khỏi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger