Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án: 401/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 21/12/2023

V/v: “Tranh chấp hôn nhân và

gia đình, ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Chúc Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phan Phước Tân;
  2. Ông Nguyễn Thiện Hoàn

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thanh Trúc Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 298/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 517/2023/QĐXXST-HN ngày 08 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 548/2023/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Châu Thị T, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ A, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Phan Duy T1, sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ A, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.

Bà T có mặt; ông Thanh vắng m.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Châu Thị T trình bày: Hôn nhân giữa bà và ông Phan Duy T1 do mai mối được gia đình tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn vào năm 2002 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện A, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến khoảng tháng 02/2012 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung. Ngoài ra, ông T1 còn ăn chơi, đi nhậu về rồi vô cớ đánh bà T, chỉ quan tâm con không quan tâm vợ. Bà và ông T1 đã ly thân từ năm 2012 cho đến nay, từ khi ly thân ông T1 không có ý định hàn gắn với bà, không cho bà thăm nom con chung, chỉ khi nào ông T1 đi vắng bà mới thăm được con. Việc bà nộp đơn ly hôn thì ông T1 cũng biết và đồng ý. Bà và ông T1 không còn tình cảm nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T1.

Về con chung: Có 02 con chung là cháu Phan Yến N, sinh ngày 12/5/2004 và cháu Phan Anh K, sinh ngày 27/4/2008. Hiện cháu N đã trưởng thành, sống tự lập, bà không yêu cầu giải quyết; cháu K đang sống cùng ông T1. Sau khi ly hôn, bà đồng ý cho ông T1 được tiếp tục nuôi dạy cháu K, bà xin không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.

Biên bản lấy lời khai ngày 02/11/2023 người thân bà T cung cấp: Nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà T và ông T1 là do ông T1 ăn nhậu, không chăm lo cho vợ con, thậm chí còn đánh bà T, cả hai ly thân từ năm 2012 cho đến nay, khả năng hàn gắn là không thể. Về tài sản chung, nợ chung thì bà không biết. Về con chung thì bà T, ông T1 có 02 con chung cháu lớn đã trưởng thành, còn cháu nhỏ sống cùng ông T1.

Thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư do Công an xã V cung cấp ngày 09/11/2023, ông Phan Duy T1, sinh năm 1980, hiện đăng ký thường trú tại ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, bà T có mặt. Riêng ông T1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt đương sự theo thủ tục chung.

Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi; thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sợ vụ án cho thấy hôn nhân của bà T, ông T1 có mâu thuẫn trầm trọng, thời gian ly thân đã lâu từ năm 2012 cho đến nay mà cả hai không có giải pháp hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Có 02 con chung cháu Phan Yến N, sinh ngày 12/5/2004 và cháu Phan Anh K, sinh ngày 27/4/2008. Hiện cháu N đã trưởng thành, cháu K đang sống cùng ông T1. Xét cháu K đã sống quen với ông T1, cháu K cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống với ông T1, để đảm bảo điều kiện cho con chung phát triển và ổn định về tâm sinh lý sau này được tốt đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu K cho ông T1 tiếp tục nuôi dạy. Do ông T1 vắng mặt, Tòa án không ghi nhận được ý kiến về việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập xem xét, nếu ông T1 có yêu cầu về mức cấp dưỡng sẽ khởi kiện bằng một vụ án khác.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Châu Thị T yêu cầu được ly hôn với ông Phan Duy T1. Ông T1 cư trú tại huyện A, tỉnh An Giang nên được Tòa án thụ lý giải quyết theo Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về sự vắng mặt của đương sự: Ông T1 được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự trong quá trình tố tụng thể hiện: Quan hệ hôn nhân giữa bà T, ông T1 do mai mối, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện A, tỉnh An Giang vào ngày 05/11/2002 nên làm phát sinh giá trị pháp lý theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu của bà T xin ly hôn với ông T1. Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T, ông T1 phát sinh từ lâu nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn nên mới sống ly thân từ năm 2012 cho đến nay. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã hòa giải đoàn tụ cho cả hai nhưng ông T1 không có mặt để hàn gắn tình cảm. Cho thấy, mâu thuẫn tình cảm giữa hai bên đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, điều này là phù hợp với lời trình bày của người thân bà T, nên yêu cầu ly hôn của bà T là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Có 02 con chung cháu Phan Yến N, sinh ngày 12/5/2004 và cháu Phan Anh K, sinh ngày 27/4/2008. Hiện cháu N đã trưởng thành, cháu K đang sống cùng ông T1. Theo Biên bản ghi nhận ý kiến con chưa thành niên ngày 25/10/2023 thì cháu K có nguyện vọng được sống cùng ông T1. Do đó để tránh xáo trộn về mặt tâm sinh lý đối với con chung và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên nên Hội đồng xét xử tiếp tục để ông T1 nuôi dạy cháu K.

Về cấp dưỡng: Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn cha hoặc mẹ là người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, Do ông T1 vắng mặt, Tòa án không ghi nhận được ý kiến về việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét, nếu ông T1 có yêu cầu về mức cấp dưỡng sẽ khởi kiện bằng một vụ án khác.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T xác định không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Tuy nhiên, nếu có căn cứ xác định có tài sản chung, nợ chung thì các đương sự có thể khởi kiện và sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

[5] Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Các Điều 9, Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Khoản 4 Điều 147, các Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Châu Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Châu Thị T được ly hôn với ông Phan Duy T1.

Giấy chứng nhận kết hôn số 17, quyển số 01 ngày 05/11/2002 của Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: Ông Phan Duy T1 được tiếp tục nuôi dạy 01 (một) con chung tên Phan Anh K, sinh ngày 27/4/2008. Bà Châu Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà T cùng các thành viên gia đình phải tôn trọng quyền trực tiếp nuôi con của ông T1. Ngược lại ông T1 và các thành viên trong gia đình không được cản trở bà T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.

Về án phí: Bà Châu Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Số tiền này được chuyển từ tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) mà bà T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú theo biên lai thu số 0008515 ngày 06/10/2023. Ông T1 không phải chịu án phí.

Bà T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 21/12/2023). Riêng ông Thanh vắng m tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND tỉnh An Giang (1)
  • - VKSND huyện An Phú (2);
  • - Chi cục THADS huyện An Phú (1);
  • - Lưu văn phòng (1);
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã nơi đăng ký kết hôn (1);
  • - Lưu hồ sơ (1).

5

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Chúc Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 401/2023/HNGĐ-ST ngày 21/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 401/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Châu Thị T và Phan Duy T1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger