Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 401/2024/HS-ST

Ngày 21-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thương Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Nam
  2. Ông Thiều Đình Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 555/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 4158/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ tên: Nguyễn Ngọc D; Tên gọi khác: Xí Được; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 22/11/1990 tạiThành phố H; Nơi cư trú: E T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 3/12; Nghề nghiệp: không; Con ông Nguyễn Ngọc H (đã chết) và bà Lê Thị T (đã chết); Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 25/7/2017, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 254/2017/HSST. Ngày 27/4/2019 bị cáo D đã chấp hành xong bản án; Bị bắt tạm giam từ ngày 14/11/2023 tại Trại tạm giam C, Công an Thành phố H.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị MAUD JULIE BERTHEL; sinh năm 1990; quốc tịch: Pháp; số hộ chiếu: 22 H1 40 190

Nơi thường trú: 104 Grand Rue, 92310, Sevees, Cộng hòa Pháp

Địa chỉ: P301 LavieSaiGon Homestay 6/12 Cách Mạng Tháng Tám, phường Bến Thành, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Huy T1, sinh năm 1988
  2. Địa chỉ:A Đ, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

  3. Anh Nguyễn Anh K, sinh năm 1989
  4. Địa chỉ: 1 L, Phường D, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền để tiêu xài cá nhân, Nguyễn Ngọc D đã nảy sinh ý định cướp giật tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 07/11/2023, Nguyễn Ngọc D điều khiển xe gắn máy (kiểu dáng Wave) gắn biển số 52Y6-6098 đi qua nhiều tuyến đường trên địa bàn Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để tìm người có tài sản sơ hở để thực hiện hành vi cướp giật. Khi đến trước nhà số B Đ, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thì D phát hiện chị MAUD JULIE BERTHEL đang đi bộ sang đường, trên tay có cầm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Plus màu trắng, ốp lưng điện thoại màu vàng để xem bản đồ nên D điều khiển xe áp sát từ phía sau bên phải của chị MAUD JULIE BERTHEL và dùng tay trái giật lấy điện thoại di động của chị MAUD JULIE BERTHEL rồi nhanh chóng tẩu thoát.

Sau khi giật được điện thoại, D tháo ốp lưng điện thoại ra và vứt lại trên đường sau đó đem điện thoại trên đến cửa hàng mua bán, sửa chữa điện thoại Kphone tại địa chỉ số F T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh bán cho anh Nguyễn Huy T1 với giá 3.500.000 đồng, số tiền này D đã tiêu xài cá nhân hết.

Khi bán điện thoại đi động cho anh T1, D nói là điện thoại của D quên mật khẩu. Sau khi mua điện thoại di động trên, anhThông tiếp tục bán lại cho anh Nguyễn Anh K với giá 4.500.000 đồng, hưởng lợi 1.000.000 đồng. Anh K không biết điện thoại trên là do phạm tội mà có và đã giao nộp lại khi Cơ quan điều tra yêu cầu.

Sau khi bị cướp giật điện thoại, chị MAUD JULIE BERTHEL, đã đến Công an phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh trình báo sự việc bị cướp giật tài sản là 01 điện thoại di động hiệu Iphone, loại 14 Plus, màu trắng, dung lượng 128GB nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã chuyển nguồn tin đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H để thụ lý theo thẩm quyền. Đến ngày 22/12/2023, chị MAUD JULIE BERTHEL xuất cảnh về lại Pháp.

Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh xác định Nguyễn Ngọc D là người đã thực hiện hành vi “Cướp giật tài sản” của chị MAUD JULIE BERTHEL tại trước nhà số B Đ, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên đã tiến hành khởi tố bị can, bắt bị can để tạm giam để điều tra theo quy định. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Ngọc D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Kết luận định giá tài sản số 286/KL-HĐĐGTS ngày 24/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone, loại 14 plus, màu trắng, dung lượng 128GB đã qua sử dụng vào thời điểm tháng 11/2023 có giá là 17.295.000 đồng (mười bảy triệu hai trăm chín mươi lăm nghìn đồng). Đối với 01 ốp lưng do không thu hồi được nên không có cơ sở để định giá.

Vật chứng của vụ án:

  • 01 DVD trong có chứa hình ảnh, video liên quan vụ việc cướp giật tài sản ngày 07/11/2023 (kèm theo hồ sơ vụ án);
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Plus màu trắng, số IMEI1: 352485851868965; Số IMEI2: 352485851802261. Ngày 14/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả cho người bị hại là chị MAUD JULIE BERTHEL;
  • Số tiền 1.000.000 đồng là tiền thu lợi bất chính do Nguyễn Huy T1 giao nộp. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã nộp kho bạc Nhà nước Quận A, chờ xử lý theo quy định;
  • Thu giữ của Nguyễn Ngọc D 01 mũ bảo hiểm màu đen, 01 áo khoác jean tay dài, 01 quần ngắn màu hồng, 01 đôi dép màu đen xanh và 01 xe gắn máy có gắn biển số 52Y6-6098.

Qua xác minh, biển số 52Y6-6098 do anh Võ Tấn H1 (sinh năm: 1973; Nơi thường trú: 50/2 KP7, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu. Anh H1 khai xe máy biển số 52Y6-6098 do anh H1 mua khoảng năm 2007 và đứng tên giấy đăng ký xe. Đến năm 2008, anh H1 đã bán lại xe trên cho người khác (không rõ lai lịch), khi bán không làm thủ tục sang tên, công chứng.

Xe máy (kiểu dáng Wave, không rõ hiệu) gắn biển số 52Y6-6098 có số khung VTT14JL1P52FMH019004; Số máy RRKWCTI0UM8XY19004 nguyên thủy. Qua xác minh, số khung, số máy trên là của xe có biển số 68S1-341.71 do anh Trương Quốc D1 (địa chỉ: A Đ, T, T, Kiên Giang) đứng tên chủ sở hữu. Anh D2 khai đã bán lại xe trên cho người khác (không rõ lai lịch, không nhớ thời điểm bán xe), khi bán không làm thủ tục sang tên, công chứng.

Trách nhiệm dân sự:

chị MAUD JULIE BERTHEL đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường, đã xuất cảnh về lại Pháp. Đối với anh Nguyễn Huy T1 là người mua lại điện thoại do Nguyễn Ngọc D cướp giật trong vụ án trên và anh Nguyễn Anh K là người mua lại chiếc điện thoại nêu trên từ Thông đều tự nguyện nộp lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường dân sự.

Tại Cáo trạng số 407/CT-VKS-P2 ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Ngọc D về tội “Cướp giật tài sản" theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo khai nhận: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 07/11/2023, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 52Y6-6098 đến trước nhà số B Đ, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thì D phát hiện chị MAUD JULIE BERTHEL đang đi bộ, trên tay có cầm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 nên D điều khiển xe áp sát từ phía sau bên phải của chị MAUD JULIE BERTHEL và dùng tay trái giật lấy điện thoại di động của chị MAUD JULIE BERTHEL rồi nhanh chóng tẩu thoát, sau đó bị cáo bán cho cửa hàng sửa chữa điện thoại Kphone tại địa chỉ số F T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh được 3.500.000 đồng, bị cáo đã tiêu xài hết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171 ; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc D từ 04 đến 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên không phải giải quyết.

Xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra và truy tố; Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại đối với các hành vi, quyết định của họ. Do vây, các hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng nêu trên là hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với Bản tự khai, Biên bản lấy lời khai, Biên bản hỏi cung bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại là chị MAUD JULIE BERTHEL, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Huy T1 và Nguyễn Anh K, phù hợp với hình ảnh camera được lưu trong hồ sơ vụ án. Tài sản bị cáo cướp giật được định giá là 17.295.000 đồng. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Bị cáo Nguyễn Ngọc D sử dụng xe mô tô nhãn hiệu kiểu dáng Wave, gắn biển số 52Y6– 6098 di chuyển đến nhà số B Đ, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh áp sát từ phía sau nên phải chị MAUD JULIE BERTHEL dùng tay trái giật điện thoại di động của chị MAUD JULIE BERTHEL rồi nhanh chóng tẩu thoát . Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Cướp giật tài sản” quy định tại Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi là Bộ luật hình sự). Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự trị an xã hội, gây mất niềm tin về sự an toàn cho du khách khi đến Thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo sử dụng xe mô tô áp sát người bị hại giật điện thoại coi là “dùng thủ đoạn nguy hiểm” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự; Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, tài sản bị cáo chiếm đoạt cũng được thu hồi trả cho người bị hại; bị cáo không còn cha mẹ, anh chị em nên Hội đồng xét xử coi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ban ngày, địa điểm là nơi có nhiều người qua lại; bị cáo có nhân thân xấu, do đó cần áp dụng hình phạt tù cách ly xã hội với thời hạn nhất định nhằm cải tạo giáo dục bị cáo, đồng thời giáo dục người khác có ý thức tuân thủ pháp luật trong phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

[5] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị MAUD JULIE BERTHEL không yêu cầu bồi thường do đã nhận lại tài sản, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Huy T1 và anh Nguyễn Đăng K1 không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[7] Xử lý vật chứng; biện pháp tư pháp:

- Đối với chiếc xe máy kiểu dáng Wave (không rõ hiệu) có số khung VTT14JL1P52FMH019004; Số máy RRKWCTI0UM8XY19004 nguyên thủy. Qua xác minh, số khung, số máy trên là của xe có biển số 68S1-341.71 do anh Trương Quốc D1 (địa chỉ: 111 Đ, Thạnh Đông A, T, Kiên Giang) đứng tên chủ sở hữu. Anh D2 khai đã bán lại xe trên cho người khác (không rõ lai lịch, không nhớ thời điểm bán xe), khi bán không làm thủ tục sang tên, công chứng. Bị cáo khai nhận, chiếc xe này do bị cáo mua tại một cửa hàng bán xe máy cũ, bị cáo không nhớ cửa hàng và không làm giấy tờ mua bán. Xét thây chiêc xe này là phương tiện bị cáo dùng để phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước. Nếu có tranh chấp về quyền sở hữu chiếc xe trên thì sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

- Đối với số biển số 52Y6-6098 (gắn trên chiếc xe bị cáo dùng đi cướp giật tài sản). Qua xác minh biển số 52Y6-6098 được cấp cho chủ xe Võ Tấn Hùng địa chỉ:E, Quận A; loại xe MODEL II số máy VHLFM152FMHV 604650, số khung RMNWCHJMN7H004650. Anh H1 khai xe máy biển số 52Y6-6098 do anh H1 mua khoảng năm 2007. Đến năm 2008, anh H1 đã bán lại xe trên cho người khác (không rõ lai lịch), khi bán không làm thủ tục sang tên, công chứng. Như vậy, biển số 52Y6 – 6098 gắn trên chiếc xe bị cáo dùng đi cướp giật tài sản không được cấp cho chiếc xe này; Do vậy, cần tịch thu tiêu hủy;

- 01 mũ bảo hiểm màu đen, 01 áo khoác jean tay dài, 01 quần ngắn màu hồng, 01 đôi dép màu đen xanh thu của Nguyễn Ngọc D, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- Số tiền 1.000.000 đồng là tiền thu lợi bất chính do anh Nguyễn Huy T1 giao nộp. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã nộp kho bạc Nhà nước Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh tịch thu sung quỹ nhà nước.

- Đối với số tiền 3.500.000 đồng là tiền bị cáo do phạm tội mà có nên buộc bị cáo phải nộp lại để tịch thu sung quỹ nhà nước.

[8] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ theo quy định.

[9] Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc D 04 (bốn) năm tù, về tội “Cướp giật tài sản”.

    Thời hạn tù tính từ ngày 14/11/2023.

  3. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
  4. Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu: không xác định, dung tích xi lanh: không xác định, SK (số mờ, rỉ sét, không kiểm tra được, ghi theo Quyết định chuyển vật chứng: RRKWCH0UM8XY19004, SM: VTT14JL1P52FMH019004 (không bửng, không bao sên, không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra) và số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng).

    Tịch thu tiêu hủy: 01 Biển số xe 52Y6 – 6098; 01 mũ bảo hiểm màu đen; 01 áo khoác jean tay dài; 01 quần ngắn màu hồng, 01 đôi dép màu đen xanh.

    (Theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/462 ngày 30/7/2024 của Cục T2 hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh và Giấy nộp tiền ngày 10/6/2024 vào tài khoản 39490905977500000 của Cơ quan cảnh sát điều tra công an Thành phố H).

    Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc D phải nộp lại số tiền 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) để tịch thu sung quỹ nhà nước.

  5. Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
  6. Bị cáo Nguyễn Ngọc D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao; (1)
  • - TAND cấp cao tại TP. HCM; (1)
  • - VKSND TP. HCM; (3)
  • - Cục Thi hành án dân sự; (1)
  • - Sở tư pháp; (1)
  • - Trại giam; (1)
  • - Bị cáo; (1)
  • - Bị hại; (1)
  • - Thi hành án hình sự; (2)
  • - Phòng PV06 - CA TP. HCM; (1)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (1)
  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (22) (6)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thương Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 401/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội cướp giật tài sản

  • Số bản án: 401/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc D: 4 năm tù.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger