Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

Bản án số: 401/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05 – 12–2024

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung"

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Văn Hồng và bà Dương Thị Thúy Duy.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàn Mỹ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 278/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1071/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 1088/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1988; địa chỉ: Tổ A, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Bùi Thanh T, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ A, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.

Bà Huỳnh Thị L vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; ông Bùi Thanh T vắng mặt không rõ lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của bà Huỳnh Thị L; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị L và ông Bùi Thanh T do tự tìm hiểu, quen biết, sau đó tiến đến hôn nhân vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện A, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 84, ngày 18/6/2009. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, đến khoảng năm 2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T không có sự quan tâm, chăm sóc gia đình, thường xuyên bỏ nhà đi đâu không rõ. Về sau, khi phát sinh mâu thuẫn thì ông T thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình với bà L. Gia đình 02 bên cũng can ngăn, hòa giải nhưng ông T không thay đổi. Đến đầu năm 2022 thì bà L và ông T sống ly thân nhau, không hàn gắn tình cảm. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà L yêu cầu được ly hôn với T.

Về con chung: Có 02 con chung tên: Bùi Thị T1, sinh ngày 15/8/2006 và Bùi Huỳnh T2, sinh ngày 28/6/2019. Hiện cháu Bùi Thị T1 đã trưởng thành, có việc làm ổn định nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn cháu Bùi Huỳnh T2 đang sống cùng bà L. Sau khi ly hôn bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy cháu T2 và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập ông Bùi Thanh T để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 25/10/2024 nhưng ông T vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông T, ông T cũng không cung cấp văn bản ghi nhận ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà L và các tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

Về tài liệu, chứng cứ:

Các tài liệu, chứng cứ do bà Huỳnh Thị L giao nộp: Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 84 ngày 18/6/2009 của UBND xã V (bản sao); Căn cước công dân mang tên Huỳnh Thị L (bản photo); Bản tự khai của bà Huỳnh Thị L (bản chính); Giấy khai sinh Bùi Huỳnh N (bản sao); Giấy khai sinh Bùi Thị T1 (bản sao).

Các tài liệu, chứng cứ do ông Bùi Thanh T giao nộp: Không.

Các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập: Biên bản xác minh tại Công an xã V, huyện A ngày 22/10/2024; biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 25/10/2024.

Tại phiên tòa, do bà L và ông T đều vắng mặt nên Hội đồng xét xử công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Theo biên bản xác minh ngày 22/10/2024, đại diện Công an xã V, huyện A, tỉnh An Giang cho biết: Ông Bùi Thanh T, sinh năm 1982 trước đây có đăng ký hộ khẩu thường trú và thường xuyên sinh sống tại địa chỉ: Tổ A, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang. Hiện nay ông T không còn sinh sống tại địa phương, không rõ nơi cư trú mới.

Theo biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 25/10/2024, bà Bùi Thị T3 cho biết: Bà T3 là chị ruột của ông Bùi Thanh T. Bà T3 thống nhất với lời trình bày của bà L về thời gian và điều kiện đi đến hôn nhân, về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn gia đình và thời gian bà L và ông T sống ly thân, về con chung. Bà T3 yêu cầu Tòa án sớm giải quyết cho bà L và ông T được ly hôn. Về tài sản chung và nợ chung thì bà T3 không rõ. Bà T3 yêu cầu được vắng mặt khi Tòa án triệu tập tham gia tố tụng do bận công việc làm ăn.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị L; về con chung, bà L được trực tiếp nuôi dạy con chung tên Bùi Huỳnh T2, sinh ngày 28/6/2019, ông T không phải cấp dưỡng để nuôi dạy con chung; bà L khai không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên không đề cập giải quyết. Về án phí: Bà L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Các bên đương sự xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho tòa án; không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng bị đơn ông Bùi Thanh T đều vắng mặt không rõ lý do; đồng thời ông T đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do. Như vậy, ông T đã tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình. Bà Huỳnh Thị L có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải và yêu cầu được vắng mặt khi vụ án được đưa ra xét xử. Do đó, vụ án được xem không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố Tụng dân sự năm 2015 và Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thẩm quyền giải quyết:

Ông Bùi Thanh T có nơi thường trú tại: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang theo quy định tại các điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và quy định tại khoản 1 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân:

Quá trình chung sống, bà Huỳnh Thị L và ông Bùi Thanh T phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách vợ chồng không hòa hợp, ông T cũng có hành vi bạo lực gia đình đối với bà L. Cả hai đã sống ly thân nhau từ năm 2022 cho đến nay, không hàn gắn tình cảm. Gia đình cũng đã động viên, hòa giải nhưng không thể hàn gắn. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà L và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3.2] Về con chung:

Có 02 con chung tên: Bùi Thị T1, sinh ngày 15/8/2006 và Bùi Huỳnh T2, sinh ngày 28/6/2019. Hiện cháu Bùi Thị T1 đã trưởng thành, có việc làm ổn định nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng cháu Bùi Huỳnh T2 đang sống cùng bà L.

Sau khi xem xét yêu cầu của bà L. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận để bà L được tiếp tục nuôi dạy con chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã giải thích cho bà L về quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung đối với người không trực tiếp nuôi con chung, cũng như nghĩa vụ cấp dưỡng của người không trực tiếp nuôi con chung, nhưng bà L vẫn giữ nguyên ý kiến của mình về việc không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định công nhận sự tự nguyện của bà L về việc không yêu cầu ông T cấp dưỡng để nuôi dạy con chung.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Ông Bùi Thanh T cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của bà Huỳnh Thị L. Ngược lại, bà L cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

[3.3] Về tài sản chung, nợ chung:

Bà Huỳnh Thị L không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên nếu sau này ông Bùi Thanh T có yêu cầu về tài sản chung thì Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.

[4] Về án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác:

Bà Huỳnh Thị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, ông Bùi Thanh T không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo:

Bà Huỳnh Thị L và ông Bùi Thanh T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; các điều 147, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị L được ly hôn với ông Bùi Thanh T.

2. Về con chung: Bà Huỳnh Thị L được trực tiếp nuôi dạy con chung tên: Bùi Huỳnh T2, sinh ngày 28/6/2019. Ông Bùi Thanh T không phải cấp dưỡng để nuôi dạy con chung.

Ông Bùi Thanh T cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của bà Huỳnh Thị L. Ngược lại, bà L cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, số tiền này được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí mà bà L đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010020 ngày 08/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Ông Bùi Thanh T không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Án tuyên công khai vắng mặt bà Huỳnh Thị L và ông Bùi Thanh T. Bà L và ông T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

5. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện An Phú;
  • - THADS huyện An Phú;
  • - UBND xã Vĩnh Trường, huyện An Phú;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

6

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Tuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 401/2024/HNGĐ-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 401/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị L và ông Bùi Thanh T do tự tìm hiểu, quen biết, sau đó tiến đến hôn nhân vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện A, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 84, ngày 18/6/2009. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, đến khoảng năm 2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T không có sự quan tâm, chăm sóc gia đình, thường xuyên bỏ nhà đi đâu không rõ. Về sau, khi phát sinh mâu thuẫn thì ông T thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình với bà L. Gia đình 02 bên cũng can ngăn, hòa giải nhưng ông T không thay đổi. Đến đầu năm 2022 thì bà L và ông T sống ly thân nhau, không hàn gắn tình cảm. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà L yêu cầu được ly hôn với T. Về con chung: Có 02 con chung tên: Bùi Thị T1, sinh ngày 15/8/2006 và Bùi Huỳnh T2, sinh ngày 28/6/2019. Hiện cháu Bùi Thị T1 đã trưởng thành, có việc làm ổn định nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn cháu Bùi Huỳnh T2 đang sống cùng bà L. Sau khi ly hôn bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy cháu T2 và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger