TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 401/2024/HS-ST
Ngày: 16 - 8- 2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Thị Gái.
- Bà Nguyễn Hương Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị H – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 378/2024/HSST ngày 16 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 417/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 96/2024/QĐST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Lê Kim T, sinh năm: 1983, tại Đồng Nai; nơi thường trú: B Đường C, Tổ B, Khu phố E, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: B Đường C, Tổ B, Khu phố E (nay là Khu phố B), phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Môi giới bất động sản; con ông Lê Kim Q (c) và bà Phan Thị T1, sinh năm 1961; bị cáo là con lớn nhất trong gia đình có 03 anh chị em; vợ: Nguyễn Thị Thanh D, sinh năm 1984 (đã ly hôn) và có 02 con, lớn sinh năm 2006 và nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không.
- Nguyễn Thanh T2, sinh năm: 1987, tại Bình Dương; nơi thường trú: Tổ A, B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: 35 Đường C, Khu phố D (nay là Khu phố A), phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 06/12; nghề nghiệp: Môi giới bất động sản; con ông Nguyễn Á (c) và bà Nguyễn Thị Giáng T3, sinh năm 1956; bị cáo là con thứ 03 trong gia đình có 06 anh chị em; vợ: Trần Thị Quỳnh N, sinh năm 1985 và có 02 con, lớn sinh năm 2009 và nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không.
- Nguyễn Thị Mỹ H1, sinh năm: 1974, tại Hà Tĩnh; nơi thường trú: 66 Đường D, Khu phố D, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Căn hộ G, Lô B, chung cư G, đường H, Khu phố F (nay là Khu phố B), phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Buôn bán tự do; con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1948 và bà Nguyễn Thị Tuyết L, sinh năm 1947; bị cáo là con thứ 02 trong gia đình có 03 chị em; chồng: Lê Tự Thanh H2, sinh năm 1973 (đã ly hôn) và có 02 con, lớn sinh năm 2008 và nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không.
- Nguyễn Thị Minh T4, sinh năm: 1969, tại Vĩnh Long; nơi thường trú: C chung cư H, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: C2.09.07 chung cư G, Khu phố F (nay là Khu phố B), phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Mua bán bất động sản; con ông Nguyễn Văn Ô (c) và bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1950; bị cáo là con lớn trong gia đình có 02 chị em; chồng: Kim Vĩnh (c) và có 01 con sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không.
- Nguyễn Quốc H3, sinh năm: 1988, tại Quảng Bình; nơi thường trú: Căn hộ D, Lô C, chung cư G, Khu phố B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Căn hộ D, Lô C, chung cư G, Khu phố B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Nhân viên kinh doanh; con ông Nguyễn Tiến V, sinh năm 1957 và bà Đồng Thị P, sinh năm 1961; bị cáo là con út trong gia đình có 02 chị em; vợ: Đoàn Thị T6, sinh năm 1988 và có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.
- Nguyễn Đình T7, sinh năm: 1987, tại Quảng Nam; nơi thường trú: Căn hộ E, Lô C, chung cư G, Khu phố B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Căn hộ E, Lô C, chung cư G, Khu phố B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Kỹ sư xây dựng; con ông Nguyễn D1, sinh năm 1962 và bà Trịnh Thị T8, sinh năm 1960; bị cáo là con lớn trong gia đình có 02 anh em; vợ: Trần Thảo T9, sinh năm 1993 và có 01 con sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/02/2024 đến ngày 02/3/2024 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/02/2024 đến ngày 02/3/2024 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
Nhân thân: Ngày 05/11/2019, bị Tòa án nhân dân Quận 9 xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/01/2020. Nộp án phí 7/8/2023, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/02/2024 đến ngày 02/3/2024 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/02/2024 đến ngày 02/3/2024 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/02/2024 đến ngày 02/3/2024 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/02/2024 đến ngày 02/3/2024 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 15 giờ 10 phút ngày 16/02/2024, Đ1 Công an thành phố T phối hợp Công an phường P, thành phố T và PC02 - Công an Thành phố H kiểm tra tại bãi đất trống trước Số A đường T, khu dân cư G, Khu phố F, phường P, thành phố T, phát hiện Lê Kim T đang làm cái chơi bài “Xì zach” thắng thua bằng tiền cùng Nguyễn Quốc H3, Nguyễn Thị Mỹ H1, Nguyễn Thanh T2, Võ Thị Minh T10, Nguyễn Đình T7, nên đưa về trụ sở Công an phường P lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại cơ quan Điều tra, các đối tượng khai nhận:
Khoảng 14 giờ ngày 16/02/2024, Lê Kim T cùng với Nguyễn Thị Mỹ H1, Nguyễn Thanh T2, Nguyễn Thị Minh T4 rủ nhau đi uống cà phê tại gần công viên bờ sông Đ T, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến nơi quán không mở cửa nên cả 04 người rủ nhau chơi bài “Xì Zach” ăn thua bằng tiền thì cả nhóm đồng ý. Sau đó đến khoảng 15 giờ thì có Nguyễn Đình T7 và Nguyễn Quốc H3 đến chơi bài cùng. Cách thức chơi bài là sử dụng bộ bài tây loại 52 lá bài, có 01 người làm cái. Những người khác được nhà cái chia 02 lá bài, sau đó cộng 02 lá bài với nhau, người chơi chỉ được so điểm với người làm cái. Người nào cao điểm hơn thì thắng và thấp điểm hơn thì thua. Người chơi phải từ 16 điểm trở lên thì mới tính đủ điểm để chơi. Người làm cái phải từ 15 điểm trở lên, trường hợp không đủ điểm hoặc muốn cao điểm hơn thì mỗi người chơi sẽ được rút thêm không quá 03 lá bài nhưng tổng 05 lá bài không quá 21 điểm. Sau khi người chơi rút xong thì nhà cái mới được rút thêm không quá 03 lá bài, tổng số điểm của nhà cái cũng không quá 21 điểm. Nếu người nào có 02 lá bài là “AA” thì gọi là “Xì bàn” lớn nhất, sau đó đến 02 lá bài là “A và J”, “Q hoặc K” gọi là “Xì Zach” và sau cùng nếu người nào có 05 lá bài nhưng không vượt quá 21 điểm thì gọi là “Ngũ Linh”. Mỗi lá bài có hình người tính 10 điểm, lá “A” sẽ được tính là 01 điểm hoặc 10 điểm, hoặc 11 điểm. Người chơi bài cược mỗi ván từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng. Bộ bài do T mua cho cả nhóm chơi. Nguyễn Quốc H3 làm cái được 05 ván. Đến ván thứ 06, Lê Kim T làm cái thì bị bắt quả tang như trên.
- Lê Kim T sử dụng 1.750.000 đồng đánh bạc, để dưới chiếu bạc 750.000 đồng, còn 1.000.000 đồng để trong ví.
- Nguyễn Thanh T2 sử dụng 3.200.000 đồng đánh bạc, để dưới chiếu bạc 200.000 đồng, còn 3.000.000 đồng để trong ví.
- Nguyễn Đình T7 sử dụng số tiền 500.000 đồng đánh bạc, thắng 50.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 550.000 đồng.
- Nguyễn Thị Mỹ H1 sử dụng số tiền 600.000 đồng đánh bạc, để dưới chiếu 50.000 đồng. Thời điểm bắt quả tang, H1 không thắng cũng không thua.
- Nguyễn Quốc H3 sử dụng số tiền 1.000.000 đồng đánh bạc, để dưới chiếu bạc 400.000 đồng, còn 600.000 đồng để trong túi.
- Nguyễn Thị Minh T4 sử dụng số tiền 1.100.000 đồng đánh bạc, để dưới chiếu bạc 100.000 đồng, còn 1.000.000 đồng để trong túi.
Vật chứng vụ án:
- - Số tiền 2.600.000 đồng trên chiếu bạc (T 750.000 đồng, T2 200.000 đồng, T7 550.000 đồng, H1 600.000 đồng, H3 400.000 đồng, T4 100.000 đồng).
- - Số tiền 5.600.000 đồng thu giữ trên người dùng để đánh bạc (Tấn 1.000.000 đồng, T2 3.000.000 đồng, H3 600.000 đồng, T4 1.000.000 đồng).
- - 02 bộ bài tây loại 52 lá bài.
Cáo trạng số: 357/CT-VKSTPTĐ ngày 09/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Lê Kim T, Nguyễn Thanh T2, Nguyễn Thị Mỹ H1, Nguyễn Thị Minh T4, Nguyễn Quốc H3 và Nguyễn Đình T7 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Lê Kim T, Nguyễn Thanh T2, Nguyễn Thị Minh T4, Nguyễn Quốc H3, Nguyễn Đình T7: Phạt tiền mỗi bị cáo từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H1: 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách gấp đôi thời hạn tù.
- - Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng truy tố và luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Tất cả các bị cáo đều đã nhận ra lỗi lầm của mình, rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo có cơ hội sửa đổi, làm ăn chân chính để nuôi gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.
[2] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, người liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Vào khoảng 15 giờ ngày 16/02/2024, tại quán cà phê “TH” địa chỉ: Số A đường T, Khu phố F, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, các bị cáo gồm: Lê Kim T, Nguyễn Thanh T2, Nguyễn Thị Mỹ H1, Nguyễn Thị Minh T4, Nguyễn Quốc H3 và Nguyễn Đình T7 đã có hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền bằng hình thức chơi bài “Xì Zach” với tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 8.200.000 đồng thì bị bắt quả tang.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cố ý vi phạm pháp luật, xâm phạm đến trật tự, nếp sống văn minh của xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự quản lý của Nhà nước và là nguy cơ dẫn đến các tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi đánh bạc là tệ nạn xã hội bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì động cơ vụ lợi, muốn có tiền để tiêu xài nên đã cố ý thực hiện hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 8.200.000 đồng. Hành vi của các bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Vụ án có đồng phạm nhưng giản đơn, cả 05 bị cáo đều là người trực tiếp thực hiện hành vi với hình thức đánh bài “Xì Zach”, Nguyễn Quốc H3 làm cái được 05 ván đến ván thứ 06 do Lê Kim T đang làm cái thì bị bắt.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt:
Tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 8.200.000 đồng và không vi phạm tình tiết định khung tăng nặng hình phạt khác nên bị đưa ra xét xử theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo Lê Kim T, Nguyễn Thanh T2, Nguyễn Thị Minh T4, Nguyễn Quốc H3 và Nguyễn Đình T7 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H1 có cha ruột (ông Nguyễn Văn Đ) được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba, mẹ ruột (bà Nguyễn Thị Tuyết L) được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm khách thể là trật tự công cộng,với động cơ vụ lợi. Các bị cáo Lê Kim T, Nguyễn Thanh T2, Nguyễn Thị Minh T4, Nguyễn Quốc H3 và Nguyễn Đình T7 có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã chứng minh được khả năng thi hành án nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo này.
Đối với bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H1 đã từng bị kết án nhưng đã được xóa án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bên cạnh đó, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, hoàn cảnh gia đình khó khăn (chồng đã ly hôn, hiện đang phải nuôi con nhỏ) nên không cần thiết cách ly bị cáo H1 ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định một khoảng thời gian thử thách theo đề nghị của Kiểm sát viên cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước và pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo lao động để trở thành công dân có ích cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Do đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo T, T2, H3, T4, T7; bị cáo H1 là lao động chính trong gia đình, nuôi con nhỏ nên Hội đồng xét xử không phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 02 bộ bài tây loại 52 lá bài là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không có gía trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với số tiền 8.200.000 đồng thu giữ là tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc nên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Kim T, Nguyễn Thanh T2, Nguyễn Thị Mỹ H1, Nguyễn Thị Minh T4, Nguyễn Quốc H3 và Nguyễn Đình T7 phạm tội “Đánh bạc”.
- Về hình phạt:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Kim T: Phạt tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T2: Phạt tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Minh T4: Phạt tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H3: Phạt tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T7: Phạt tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H1: 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H1 cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được cho hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
- - Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước: 02 (hai) bộ bài tây loại 52 lá hiệu “DOUBLE K” chưa qua sử dụng.
- - Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước: Số tiền 8.200.000 đồng.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 265/QĐ-VKS ngày 02/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 10/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
(Theo Giấy nộp tiền mặt ngày 05/7/2024 tại Ngân hàng TMCP Đ2 - Chi nhánh thành phố T; tên người nộp: Mai Sơn L1; người thụ hưởng: Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- - Buộc các bị cáo Lê Kim T, Nguyễn Thanh T2, Nguyễn Thị Mỹ H1, Nguyễn Thị Minh T4, Nguyễn Quốc H3 và Nguyễn Đình T7, mỗi bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
- - Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
(Đã giải thích về chế định án treo cho bị cáo được hưởng án treo)
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Ngọc |
Bản án số 401/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về đánh bạc
- Số bản án: 401/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc giữa T, T2, H1, T4, H3 và T7
