|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – T – Hạnh Phúc |
|
Bản án số:401/2023/HSST Ngày:11/8/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA,TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phú
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn N
Bà Nguyễn Thị Kim Chi
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn T1- Thư ký TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa:
Bà Đỗ Thị L - Kiểm sát viên
Hôm nay, ngày 11 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 317/2023/HSST ngày 05 tháng 6 năm 2023, thông báo dời lịch ngày 24 tháng 7 năm 2023, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Văn H; Tên gọi khác: Không.
- Nơi đăng ký thường trú: Thôn H, xã N, huyện C, thành phố Hà Nội.
- Nơi tạm trú: Tổ A, khu phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Sinh năm 1988, tại Hà Nội. Giới tính: Nam
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 10/12. Nghề nghiệp: Kinh doanh.
Họ tên cha: Nguyễn Viết V, sinh năm 1957 (chết).
Họ tên mẹ: Phùng Thị D, sinh năm 1956 (còn sống).
Gia đình có 06 chị em, bị cáo là con thứ sáu.
Họ tên vợ: Trần Thị Như T2, sinh năm 1987. Bị cáo có hai con, sinh năm 2011 và năm 2017.
Tiền án: Ngày 15/12/2011, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 tháng 18 ngày tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật” quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. (Hiến chấp hành đóng án phí vào ngày 11/4/2023).
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 04/02/2023, chuyển tạm giam theo lệnh số 318/LTG ngày 14/02/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
- Họ và tên: Trần Việt H1;Tên gọi khác: Không.
- Nơi đăng ký thường trú: Tổ G, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Pháp.
- Nơi ở hiện nay:16/27, tổ G, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Sinh năm 1989, tại Đồng Tháp. Giới tính: Nam.
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Thợ xây. Trình độ học vấn: Lớp 01/12.
Họ tên cha: Trần Văn L1, sinh năm 1950 (đã chết).
Họ tên mẹ: Võ Thị Đ, sinh năm 1955 (đã chết).
Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất và chưa có vợ, con.
Tiền án: Ngày 21/6/2019, bị Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm 06 tháng tù về các tội “Cố ý gây thương tích”, “Bắt giữ người trái pháp luật” và “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại các Điều 134, 157, 170 Bộ luật hình sự. (H1 chấp hành xong Bản án vào ngày 15/3/2021).
Nhân thân: Ngày 24/3/2015, H1 bị Toà án nhân dân tỉnh Long An xử phạt 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 250 Bộ luật hình sự (H1 chấp hành xong Bản án vào ngày 21/10/2015).
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 04/02/2023, chuyển tạm giam theo lệnh số 319/LTG ngày 14/02/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
- Họ và tên: Trần Quang T3; Tên gọi khác: Cu Năm.
Sinh năm 1996, tại Đồng Nai. Giới tính: Nam.
Nơi cư trú: Tổ D, ấp Đ, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Lái xe. Trình độ học vấn: Lớp 09/12.
Họ tên cha: Trần Văn L2, không rõ năm sinh (còn sống).
Họ tên mẹ: Nguyễn Thị V1, không rõ năm sinh (còn sống).
Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ tư.
Họ tên vợ: Trần Thị Tú T4, sinh năm 2000 và có 01 con sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt quả tang, tạm giữ và tạm giam từ ngày 04/2/2023 đến ngày 10/3/2023. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh.
- Họ và tên: Nguyễn Văn P; Tên gọi khác: Không.
Sinh năm 1987, tại Đồng Nai. Giới tính: Nam.
Nơi cư trú: Khu C, ấp G, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Thiên Chúa.
Nghề nghiệp: Công nhân. Trình độ học vấn: 09/12.
Họ tên cha: Nguyễn Hữu T5, sinh năm: 1964 (đã chết).
Họ tên mẹ: Mai Ngọc Á, sinh năm: 1964 (còn sống).
Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ ba.
Họ tên vợ: Nguyễn Cẩm T6, sinh năm 1995. Bị cáo có 02 con sinh năm 2014 và năm 2019.
Tiền án: Ngày 11/01/2018, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo (thời gian thử thách 04 năm) về tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự (P chưa chấp hành xong Bản án).
Tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 15/01/2008, bị Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 (P đã chấp hành xong Bản án ngày 12/11/2009).
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 04/02/2023, chuyển tạm giam theo lệnh số 329/LTG ngày 14/02/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
- Họ và tên: Trịnh Văn Q; Tên gọi khác: Trịnh Quốc M.
Sinh năm 1989, tại Bạc Liêu. Giới tính: Nam.
Nơi cư trú: Tổ D, khu phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Thiên Chúa.
Nghề nghiệp: Làm thuê.Trình độ học vấn: 01/12.
Họ tên cha: Trịnh Văn T7, sinh năm: 1962 (đã chết).
Họ tên mẹ: Trịnh Ngọc G, sinh năm: 1964 (còn sống).
Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba.
Họ tên vợ: Đoàn Thị Phương L3, sinh năm 1988. Bị cáo có 03 con sinh năm lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2016.
Tiền án: Ngày 08/01/2021, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự (Chấp hành xong Bản án ngày 14/4/2022).
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 26/6/2007, bị Toà án nhân dân huyện Long thành xử phạt 16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 (Q đã chấp hành xong Bản án).
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 04/02/2023, chuyển tạm giam theo lệnh số 330/LTG ngày 14/02/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
- Họ và tên: Trần Văn Đ1; Tên gọi khác: Không.
- Nơi đăng ký thường trú: Tổ B, ấp B, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang.
- Chỗ ở hiện nay: Tổ C, khu phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Sinh năm 1987, tại An Giang. Giới tính: Nam.
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ học vấn: Không biết chữ.
Họ tên cha: Trần Văn Đ2, không rõ năm sinh (còn sống).
Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Ỏ, không rõ năm sinh (còn sống).
Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ tư.
Họ tên vợ: Hồ Thị Thanh H2, sinh năm 1987. Bị cáo có 04: lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2018.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 22/9/2011, bị Toà án nhân dân thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. (Đuốt đã chấp hành xong Bản án).
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 04/02/2023, chuyển tạm giam theo lệnh số 325/LTG ngày 14/02/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
- Họ và tên: Nguyễn Văn L4; Tên gọi khác: Không.
- Nơi đăng ký thường trú: Ấp I, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
- Chỗ ở hiện nay: Tổ A, khu phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Sinh năm 1994, tại Kiên Giang. Giới tính: Nam.
Nơi cư trú:
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Công nhân. Trình độ học vấn: 05/12.
Họ tên cha: Nguyễn Văn T8, sinh năm: 1972 (còn sống).
Họ tên mẹ: Trần Thị N1, sinh năm: 1971 (đã chết).
Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.
Họ tên vợ: Nguyễn Thị Tình N2, sinh năm 1998. Bị cáo có 02 con sinh năm 2016 và năm 2021.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt quả tang, tạm giữ và tạm giam từ ngày 04/2/2023 đến ngày 06/4/2023. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh.
- Họ và tên: Lê Minh B; Tên gọi khác: Không.
- Nơi đăng ký thường trú: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Nơi tạm trú: Tổ A, khu phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Sinh năm 1990, tại Cà Mau. Giới tính: Nam.
Nơi cư trú:
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Khơ me - Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 11/12. Nghề nghiệp: Làm thuê.
Họ tên cha: Lê Văn H3, sinh năm 1960 (còn sống).
Họ tên mẹ: Nguyễn Thị N3, sinh năm 1966 (con sống).
Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ tư.
Họ tên vợ: Bùi Bích N4, sinh năm 1995 và có 01 con sinh năm 2019.
Tiền án: Ngày 16/10/2019, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà xử phạt 02 năm 02 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự (Bảnh chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/3/2021).
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 04/02/2023, chuyển tạm giam theo lệnh số 324/LTG ngày 14/02/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
- Họ và tên: Võ Duy T9; Tên gọi khác: Không.
- Nơi đăng ký thường trú: Ấp Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai
- Chỗ ở hiện nay: 109, tổ C, khu phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Ngày 06/12/2002, bị Toà án nhân dân huyện Long thành xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (T9 đã chấp hành xong Bản án).
- Ngày 23/10/2014, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại Điều 194 Bộ luật hình sự (T9 đã chấp hành xong Bản án).
Sinh năm 1983, tại Đồng Nai. Giới tính: Nam.
Nơi cư trú:
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Thiên Chúa.
Nghề nghiệp: Xây dựng. Trình độ học vấn: 09/12.
Họ tên cha: Võ C, sinh năm: 1946 (đã chết).
Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T10, sinh năm: 1953 (còn sống).
Gia đình có 04 anh em. Bị cáo là con thứ hai.
Họ tên vợ: Lê Thị Hoa N5, sinh năm 1978. Bị cáo có 03 con sinh năm 2003, 2005 và 2008.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Bị bắt quả tang, tạm giữ và tạm giam từ ngày 04/2/2023 đến ngày 06/4/2023. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh.
- Họ và tên: Trần Công N6; Tên gọi khác: Không.
- Nơi đăng ký thường trú: Tổ A, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Nơi ở: Tổ A, khu phố M, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Sinh năm 1969, tại Đồng Nai. Giới tính: Nam.
Nơi cư trú:
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Phật.
Nghề nghiệp: Không.Trình độ học vấn: Lớp 9/12.
Họ tên cha: Trần Công T11, sinh năm 1920 (đã chết).
Họ tên mẹ: Nguyễn Thị C1, sinh năm 1923 (đã chết).
Gia đình có 08 anh em, bị cáo là con thứ sáu.
Họ tên vợ: Kiên Thị Bích N7, sinh năm 1979 (đã ly hôn). Bị cáo có 02 con sinh năm 2002 và năm 2014.
Tiền án: Ngày 07/3/2019, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự (N6 chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/4/2021).
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 31/5/2023 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà xử phạt 10 (mười) tháng tù về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự (Tại bản án số 244/2023/HS-ST ngày 31/5/2023).
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 04/02/2023, chuyển tạm giam theo lệnh số 322/LTG ngày 14/02/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
- Họ và tên: Trương Tấn P1; Tên gọi khác: Út L5.
- Ngày 25/4/2021, P1 thực hiện hành vi đánh bạc. Ngày 24/12/2021, Trương Tấn P1 bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự. P1 chưa được xoá án tích.
- Ngày 16/4/2021, P1 thực hiện hành vi đánh bạc. Ngày 14/01/2022, Trương Tấn P1 bị Toà án nhân dân huyện Long thành xử phạt 08 tháng tù về tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự. P1 chưa được xoá án tích.
Sinh năm 1988, tại Đồng Nai. Giới tính: Nam.
Nơi cư trú: Khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Làm thuê.Trình độ học vấn: 08/12.
Họ tên cha: Trương Hiệp L6, sinh năm: 1954 (còn sống).
Họ tên mẹ: Ngô Thị L7, sinh năm: 1953 (đã chết).
Gia đình có 07 anh em, bị cáo là con thứ bảy.
Họ tên vợ: Lê Ngọc T12, sinh năm 1997. Bị cáo có 01 con sinh năm 2017.
Tiền án: 02.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 04/02/2023, chuyển tạm giam theo lệnh số 328/LTG ngày 14/02/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
- Họ và tên: Đoàn Thị T13; Tên gọi khác: Bà S.
- Nơi đăng ký thường trú: Tôn Tân H4, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Chỗ ở hiện nay: Tổ A, khu phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Sinh năm 1962, tại Đồng Nai.Giới tính: Nữ.
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Nội trợ. Trình độ học vấn: Lớp 02/12.
Họ tên cha: Đoàn Thế K, sinh năm: Không rõ (đã chết).
Họ tên mẹ: Lê Thị B1, sinh năm: Không rõ (đã chết).
Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba.
Họ tên chồng: Nguyễn Văn H5, sinh năm 1960. Bị cáo có 04 con sinh năm 1983, 1985, 1990 và năm 1992.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt quả tang, tạm giữ và tạm giam từ ngày 04/02/2023 đến ngày 10/3/2023. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh.
- Họ và tên: Nguyễn Thanh T14;Tên gọi khác: Không.
- Nơi đăng ký thường trú: Ấp N, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Sóc Trăng.
Sinh năm 1987, tại Sóc Trăng. Giới tính: Nam.
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ học vấn: 07/12.
Họ tên cha: Nguyễn Thanh H6, sinh năm 1961 (còn sống).
Họ tên mẹ: Trần Thị H7, sinh năm 1963 (còn sống).
Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai.
Họ tên vợ: Phạm Thị T15, sinh năm 1985. Bị cáo có 01 con sinh năm 2020.
Tiền án: Ngày 10/6/2020, bị Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 25.000.000₫ (Hai lăm triệu đồng) về tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự (T14 chấp hành xong hình phạt tiền ngày 27/02/2023).
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 04/02/2023, chuyển tạm giam theo lệnh số 323/LTG ngày 14/02/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
a)Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Vào Khoảng tháng 6/2022, Nguyễn Văn H thuê lại Khu V tại tổ A, khu phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai của ông Nguyễn Kim Q1, sinh năm 1981 (ngụ tại: A, P, KP2, phường C, Quận C, TP Hồ Chí Minh) để kinh doanh bán café, nước uống và thể dục thể thao (phòng T18, hồ bơi). Để tăng thêm thu nhập, từ ngày 31/01/2023 đến ngày 04/02/2023, H sử dụng Khu vui chơi nêu trên làm địa điểm tổ chức cho nhiều người đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền, hình thức lắc “Bầu-Cua”; “T16-Xỉu” để thu tiền xâu.
Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 04/02/2023, do biết H có tổ chức đánh bạc, nên Nguyễn Văn P mang theo 01 bộ dụng gồm 01 chén nhựa, 01 đĩa và 03 hột xí ngầu đến Khu V hỏi xin Hiến cho P làm cái đánh bạc thắng thua bằng tiền hình thức lắc “T16-Xỉu”, H đồng ý. Quá trình các đối tượng tham gia đánh bạc, H sử dụng điện thoại di
động hiệu Iphone 12 Pro Max (số thuê bao 0988427799) liên hệ rủ Trịnh Việt H8 (số thuê bao 0343655220) đến cùng tham gia làm cái đánh bạc.
Trong khoảng thời gian từ 21 giờ 30 phút đến 22 giờ 10 phút cùng ngày, tại Khu V, H đã tổ chức cho Nguyễn Văn P, Trịnh Văn Q, Trần Việt H1, Trần Quang T3, Đoàn Thị T13, Trần Công N6, Nguyễn Thanh T14, Lê Minh B, Trần Văn Đ1, Nguyễn Văn L4, Võ Duy T9, Trương Tấn P1 và một số người (không rõ lai lịch) đánh bạc thắng thua bằng tiền hình thức lắc “T16-Xỉu”. Hiến quy ước người làm cái phải trả tiền xâu cho H số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng)/30 phút làm cái, nếu ván nào có “Bão” thì người làm cái phải chia số tiền thắng cược cho H theo tỷ lệ 4:6 (tức là: Hiến được hưởng 400.000đ/1.000.000đ tiền thắng cược). Quá trình đánh bạc P và H1 thay nhau làm cái đánh bạc với những người khác.
Cách thức đánh bạc cụ thể như sau:
Người chơi sử dụng một bộ dụng cụ lắc “T16-Xỉu” gồm 01 chén, 01 đĩa và 03 hột xí ngầu hình lập phương có 06 mặt in hình các dấu chấm tương ứng với các số từ 01 đến 06. Chiếu bạc được chia làm 02 phần “Tài” và “Xỉu”. Người làm cái sẽ cho 03 hột xí ngầu vào cái đĩa đậy nắp lại rồi lắc, sau đó đặt xuống chiếu bạc, những người chơi sẽ đặt tiền cược vào bên “T16” hay bên “Xỉu” xong, người làm cái mở nắp ra. Nếu 03 mặt phía trên của hột xí ngầu có tổng số điểm từ 11 đến 18 điểm gọi là “T16” thì người làm cái sẽ thua cược những người đặt tiền bên “T16” và sẽ thắng cược những người đặt tiền cược bên “Xỉu”. Nếu 03 mặt phía trên của hột xí ngầu có tổng số điểm từ 03 đến 10 điểm gọi là “Xỉu” thì người làm cái sẽ thắng những người đặt tiền cược bên “Tài” và thua cược bên “Xỉu”. Trường hợp nếu 03 mặt phía trên của hột xí ngầu có số điểm giống nhau như 4 hay 5 hay 6 tương đương có tổng số 12 điểm hay 15 điểm hay 18 điểm thì gọi là “Bão” bên “T16”, người làm cái sẽ thắng hết tiền cược của những người đặt tiền bên “Xỉu” và hòa với những người đặt tiền bên “T16”. Nếu 03 mặt trên của hột xí ngầu có số điểm giống nhau như 1 hay 2 hay 3 tương đương với tổng số 3 điểm, 6 điểm hay 9 điểm thì gọi là “Bão” bên “Xỉu”, người làm cái sẽ thắng hết tiền của những người đặt cược bên “T16” và hòa với những người đặt tiền bên "Xiu".
Với cách thức đánh bạc như trên, P, Q, H1, T3, T13, N6, T14, B, Đ1, L4, T9, P1 và một số người (không rõ lai lịch) đã đánh bạc với số tiền dùng vào việc đánh bạc cụ thể như sau:
- Nguyễn Văn P, Trịnh Văn Q: P đem theo và sử dụng 5.000.000đ (Năm triệu đồng) làm cái đánh bạc cùng T13, B, Đ1, P1 và khoảng 06 người (không rõ lai lịch) từ 21 giờ 30 phút đến 22 giờ cùng ngày thì dừng lại chuyển cho Trần Việt H1 làm cái. Phụng kiểm tra tiền thấy thắng số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Quá trình làm cái, P rủ Trịnh Văn Q (là bảo vệ khu V) phụ giúp P trong việc thu, chi trả tiền thắng thua cho những người tham gia đặt cược. P đã trả công cho Q 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) và trả Hiến 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền xâu. Trong lúc P, Q
đang ngồi chờ đến lượt làm cái tiếp theo thì bị Công an bắt quả tang, P bỏ chạy nên đã làm rơi số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng); thu trên người Q 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) là tiền P trả công và 9.700.000đ (Chín triệu bảy trăm nghìn đồng) không liên quan đến việc đánh bạc.
- Trịnh Việt H8, Trần Quang T3: H8 đem theo và sử dụng số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) làm cái đánh bạc. H8 rủ Trần Quang T3 cùng tham gia. H8 đưa cho T3 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) để T3 phụ giúp H8 trong việc thu, chi trả tiền thắng thua cho những người tham gia đặt cược và hứa sẽ trả công cho T3 số tiền từ 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) đến 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). H8 làm cái đánh bạc cùng T13, N6, T14, B, Đ1, L4, T9, P1 và một số người (không rõ lai lịch) từ 22 giờ đến 22 giờ 10 phút cùng ngày thì bị bắt quả tang, H8 thua 2.000.000đ (Hai triệu đồng) và chưa trả tiền công cho T3. Thu giữ trên người T3 số tiền 8.000.000đ (Tám triệu đồng) là tiền H8 đưa T3 dùng đánh bạc.
- Trần Văn Đ1 đem theo và sử dụng 1.300.000đ (Một triệu ba trăm nghìn đồng) tham gia đánh bạc do P làm cái đến 22 giờ cùng ngày, Đ1 thua 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Khi H8 làm cái, Đ1 tiếp tục sử dụng số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) đánh bạc đến khi bị Công an bắt quả tang, thu giữ trên người Đuốt 1.000.000đ (Một triệu đồng) đang dùng đánh bạc.
- Nguyễn Văn L4 đem theo và sử dụng 900.000₫ (Chín trăm nghìn đồng) đánh bạc, thắng thua trực tiếp với H8. Khi bị bắt, L4 thua 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), thu giữ trên người L4 700.000₫ (Bảy trăm nghìn đồng) đang dùng đánh bạc, 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) không sử dụng đánh bạc.
- Lê Minh B đem theo và sử dụng 750.000đ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tham gia đánh bạc do P làm cái đến 22 giờ cùng ngày, B thua 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Khi H8 làm cái, B tiếp tục sử dụng số tiền 450.000₫ (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng) đánh bạc đến khi bị Công an bắt quả tang, thu giữ trên người Bảnh 350.000₫ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) đang dùng đánh bạc.
- Võ Duy T9 đem theo và sử dụng 370.000₫ (Ba trăm bảy mươi nghìn đồng) đánh bạc. Khi T9 đang đặt cược 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) thắng thua trực tiếp với H8 thì bị bắt quả tang. Thu giữ trên người T9 270.000đ (Hai trăm bảy mươi nghìn đồng) đang dùng đánh bạc.
- Trần Công N6 đem và sử dụng 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) đánh bạc, thắng thua trực tiếp với H8. Khi bị bắt, N6 thua 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng), thu giữ trên người Nhi 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) đang dùng đánh bạc.
- Trương Tấn P1 đem theo và sử dụng 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tham gia đánh bạc do P làm cái đến 22 giờ cùng ngày, P1 thua 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng). Khi H8 làm cái, P1 tiếp tục sử dụng số tiền 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) đánh bạc đến khi bị Công an bắt quả tang, P1 thua 100.000đ (Một
trăm nghìn đồng), thu giữ trên người Phước 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) đang dùng đánh bạc; 1.300.000đ (Một triệu ba trăm nghìn đồng) không dùng đánh bạc.
- Đoàn Thị T13 đem theo và sử dụng 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) tham gia đánh bạc do P làm cái đến 22 giờ cùng ngày, T13 thắng 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng). Khi H8 làm cái, T13 tiếp tục sử dụng số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) đánh bạc với H8. Khi T13 đang đặt cược 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) trên chiếu bạc thì bị bắt quả tang.
- Nguyễn Thanh T14 đem theo và sử dụng 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) đang đặt cược thắng thua trực tiếp với H8 thì bị bắt quả tang.
Đến khoảng 22 giờ 10 phút cùng ngày, khi H đang tổ chức cho P, Q, H8, T3, T13, N6, T14, B, Đ1, L4, T9, P1 và một số người (không rõ lai lịch) đánh bạc thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B phát hiện bắt quả tang, một số người (không rõ lai lịch) bỏ chạy thoát. Thu giữ trên chiếu bạc và trên người các đối tượng tổng số tiền 24.520.000₫ (Hai mươi bốn triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng), trong đó: 24.320.000₫ (Hai mươi bốn triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng) đang dùng vào việc đánh bạc; 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) là tiền T17 thu xâu.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn P, Trịnh Văn Q, Trần Việt H1, Trần Quang T3, Đoàn Thị T13, Trần Công N6, Nguyễn Thanh T14, Lê Minh B, Trần Văn Đ1, Nguyễn Văn L4, Võ Duy T9, Trương Tấn P1 đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn H còn khai nhận từ ngày 31/01/2023 đến ngày 03/02/2023, tại địa điểm nêu trên, H đã tổ chức cho nhiều người đến đánh bạc để thu tiền xâu tuy nhiên không xác định được nhân thân lai lịch, số người và số tiền dùng đánh bạc. Hiến đã thu xâu được tổng số tiền 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng).
b) Về các vấn đề khác:
Vật chứng vụ án thu giữ gồm:
- 01 bộ dụng cụ lắc “Tài”, “Xỉu” gồm: 01 chén, 01 đĩa và 03 hột xí ngầu.
Số tiền dùng đánh bạc: Tổng cộng là 24.520.000đ (Hai mươi bốn triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng), gồm:
- + Thu giữ trên chiếu bạc 13.400.000₫ (Mười ba triệu bốn trăm nghìn đồng) của những người đánh bạc đang dùng vào việc đánh bạc.
- + Số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) là tiền H vừa thu xâu.
- + Thu trên người các bị cáo số tiền dùng đánh bạc 10.920.000₫ (Mười triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng) gồm: 1.000.000đ (Một triệu đồng) của Đ1; 350.000₫ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) của B; 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) của P1; 8.000.000đ (Tám triệu đồng) của H1 do T3 cất giữ; 250.000₫ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) của N6; 700.000₫ (Bảy trăm nghìn đồng) của L4; 270.000₫ (Hai trăm bảy mươi nghìn đồng) của T9; 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) của Q.
- Cơ quan điều tra thu giữ và đang tạm giữ số tài sản liên quan đến việc đánh bạc gồm:
- + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, số I 353854132430805, số thuê bao 0988427799 của Nguyễn Văn H sử dụng liên lạc với Trần Việt H1 rủ tham gia đánh bạc.
- + 01 điện thoại di động hiệu POCO X3 NFC (không kiểm tra tình trạng bên trong) của H1 sử dụng liên lạc với H về việc đánh bạc.
- Số tiền không sử dụng vào việc phạm tội, Cơ quan điều tra đang tạm giữ:
- + 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng) của H.
- + 1.300.000đ (Một triệu ba trăm nghìn đồng) của P1.
- + 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) của L4.
- + 9.700.000₫ (Chín triệu bảy trăm nghìn đồng) của Q.
- Cơ quan điều tra thu giữ và đã giao trả cho các chủ sử hữu do không liên quan đến việc phạm tội, gồm:
- + 01 điện thoại di động hiệu Redmi cho Đ1.
- + 01 điện thoại di động hiệu Redmi cho B.
- + 01 điện thoại di động hiệu ViVo cho T14.
- + 01 điện thoại di động hiệu Vivo I3 và 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 60C1-625.79 cho P1.
- + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax; 01 điện thoại di động hiệu Vivo cho T3.
- + 01 điện thoại di động hiệu S1 A73 cho N6.
- + 01 điện thoại di động hiệu Samsung A50; 01 xe mô tô biển số 68M1-080.89 cho L4.
- + 01 điện thoại di động hiệu Vertu S.202205 cho T9.
- + 01 điện thoại di động hiệu Oppo cho Q.
c) Tại bản cáo trạng số 32/CT/VKS- HS ngày 02/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa đã truy tố Nguyễn Văn Hiến, về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự.
- Nguyễn Văn P, Trịnh Văn Q, Trần Việt H1, Trần Quang T3, Trần Công N6, Nguyễn Thanh T14, Lê Minh B, Trần Văn Đ1, Nguyễn Văn L4, Võ Duy T9, Trương Tấn P1 và Đoàn Thị T13, về tội “Đánh bạc”, theo Điều 321 khoản 1 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại phiên Tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo: Nguyễn Văn H, về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự.
- Nguyễn Văn P, Trịnh Văn Q, Trần Việt H1, Trần Quang T3, Trần Công N6, Nguyễn Thanh T14, Lê Minh B, Trần Văn Đ1, Nguyễn Văn L4, Võ Duy T9, Trương Tấn P1 và Đoàn Thị T13, về tội “Đánh bạc”, theo Điều 321 khoản 1 Bộ luật Hình sự
Đề nghị xử phạt các bị cáo mức án như sau:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 08(tám) đến 12(mười hai) tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo H số tiền 40.000.000đ(bốn mươi triệu) đến 60.000.000đ(sáu mươi triệu đồng).
Xử phạt Nguyễn Văn P 07-10 tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo P số tiền 15.000.000(mười lăm triệu đồng) đến 25.000.000đ(hai mươi lăm triệu đồng).
Xử phạt bị cáo Trịnh Văn Q 07-10 tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo Quân số tiền 10.000.000đ đến 20.000.000đ(hai mươi triệu đồng).
Xử phạt bị cáo Trần Việt H1 07-10 tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo H1 số tiền 20.000.000đ đến 30.000.000đ(ba mươi triệu đồng).
Xử phạt bị cáo Trần Quang T3 30 .000.000đ(ba mươi triệu đồng) đến 40.000.000đ(bốn mươi triệu đồng).
Xử phạt bị cáo Trần Công N6 07-10 tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo N6 số tiền 20.000.000đ đến 30.000.000đ(ba mươi triệu đồng).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T14 07-10 tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo T14 số tiền 20.000.000₫ (hai mươi triệu đồng) đến 30.000.000đ(ba mươi triệu đồng).
Xử phạt bị cáo Lê Minh B 07-10 tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo B số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) đến 20.000.000đ(hai mươi triệu đồng).
Xử phạt bị cáo Võ Duy T9 số tiền 40.000.000đ(bốn mươi triệu đồng) đến 60.000.000đ(sáu mươi triệu đồng).
Xử phạt bị cáo Trương Tấn P1 07 (bảy) đến 10(mười) tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo P1 số tiền 20.000.000đ(hai mươi triệu đồng) đến 30.000.000đ(ba mươi triệu đồng)
Xử phạt bị cáo Đoàn Thị T13 số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) đến 40.000.000đ(bốn mươi triệu đồng).
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về việc truy tố của Viện kiểm sát.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
-[1]Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do
đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội: Từ khoảng 21 giờ 30 phút đến 22 giờ 10 phút ngày 04/02/2023, tại Khu V thuộc tổ A, khu phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Văn H đã tổ chức cho Nguyễn Văn P, Trịnh Văn Q, Trần Việt H1, Trần Quang T3, Đoàn Thị T13, Trần Công N6, Nguyễn Thanh T14, Lê Minh B, Trần Văn Đ1, Nguyễn Văn L4, Võ Duy T9, Trương Tấn P1 và một số người (không rõ lai lịch) đánh bạc thắng thua bằng tiền hình thức lắc “T16-Xỉu”, trong đó: P, Q tham gia đánh bạc với tổng số tiền đánh bạc là 7.400.000₫ (Bảy triệu bốn trăm nghìn đồng); H1, T3, T13, N6, T14, B, Đ1, L4, T9, P1 tham gia đánh bạc với tổng số tiền đánh bạc là 24.520.000đ (Hai mươi bốn triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng).
Nguyễn Văn H
là người tổ chức đánh bạc.Nguyễn Văn P, Trịnh Văn Q, Trần Việt H1, Trần Quang T3, Đoàn Thị T13, Trần Công N6, Nguyễn Thanh T14, Lê Minh B, Trần Văn Đ1, Nguyễn Văn L4, Võ Duy T9, Trương Tấn P1
là người thực hiện hành vi đánh bạc.Đối chiếu lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác thể hiện tại hồ sơ vụ án, từ đó đã có đủ căn cứ để xác định hành vi phạm tội của các bị cáo. Qua xem xét nhân thân, hành vi của các bị cáo xét thấy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H, về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; Nguyễn Văn P, Trịnh Văn Q, Trần Việt H1, Trần Quang T3, Trần Công N6, Nguyễn Thanh T14, Lê Minh B, Trần Văn Đ1, Nguyễn Văn L4, Võ Duy T9, Trương Tấn P1 và Đoàn Thị T13, về tội “Đánh bạc”, theo Điều 321 khoản 1 Bộ luật Hình sự là đúng căn cứ pháp luật.
[3]Tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác, gây bất bình trong quần chúng nhân dân.
Trong vụ án này các bị cáo cùng rủ nhau thực hiện hành vi đánh bạc, ăn thua trực tiếp với nhau, nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn.
Nguyễn Văn H là người tổ chức cho các bị cáo khác đánh bạc. Bị cáo có một tiền án chưa được xóa án tích nên phạm vào tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo giữ vai trò thứ nhất trong vụ án nên phải chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác để giáo dục bị cáo.
Các bị cáo Trần Việt H1, Trịnh Văn Q, Nguyễn Thanh T14, Trần Công N6, Trương Tấn P1, Lê Minh B, Nguyễn Văn P đều có một tiền án chưa được xóa án tích nên phạm vào tình tiết tăng nặng quy định tại điềm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự. Vì vậy cần phải có một mức án nghiêm nhằm giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ Luật Hình sự; các bị cáo Trần Quang T3, Đoàn Thị T13, Nguyễn Văn L4 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Trần Văn Đ1, Võ Duy T9 không có tiền án tiền sự nên xem xét giảm nhẹ một phần về mức hình phạt cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo Trần Quang T3, Đoàn Thị T13, Nguyễn Văn L4, Võ Duy T9 cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[5]Về xử lý vật chứng:
- Đối với các tài sản:
- + 01 điện thoại di động hiệu Redmi cho Đ1.
- + 01 điện thoại di động hiệu Redmi cho B.
- + 01 điện thoại di động hiệu ViVo cho T14.
- + 01 điện thoại di động hiệu Vivo I3 và 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 60C1-625.79 cho P1.
- + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax; 01 điện thoại di động hiệu Vivo cho T3.
- + 01 điện thoại di động hiệu S1 A73 cho N6.
- + 01 điện thoại di động hiệu Samsung A50; 01 xe mô tô biển số 68M1-080.89 cho L4.
- + 01 điện thoại di động hiệu Vertu S.202205 cho T9.
- + 01 điện thoại di động hiệu Oppo cho Q.
Cơ quan điều tra thu giữ và đã giao trả cho các chủ sử hữu do không liên quan đến việc phạm tội là phù hợp.
- Tịch thu tiêu hủy 01 chén nhựa, 01 đĩa nhựa, 03 hột xí ngầu là công cụ các bị cáo sử dụng đánh bạc.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
- + Số tiền 24.520.000đ (Hai mươi bốn triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng) là tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc và tiền thu lợi bất chính, cụ thể:
200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) của Nguyễn Văn H; 1.000.000đ (Một triệu đồng) của Trần Văn Đ1; 350.000đ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) của Lê Minh B; 50.000₫ (Năm mươi nghìn đồng) của Trương Tấn P1; 8.000.000đ (Tám triệu đồng) của Trần Việt H1 do T3 cất giữ; 250.000₫ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) của Trần Công N6; 700.000₫ (Bảy trăm nghìn đồng) của Nguyễn Văn L4; 270.000₫ (Hai trăm bảy mươi nghìn đồng) của Võ Duy T9; 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) của Trịnh Văn Q và 13.400.000đ (Mười ba triệu bốn trăm nghìn đồng) trên chiếu bạc.
- + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, số Imei 353854132430805 của Nguyễn Văn H và 01 điện thoại di động hiệu POCO X3 NFC của Trần Việt H1 sử dụng vào việc phạm tội.
- Buộc bị cáo Nguyễn Văn H giao nộp số tiền thu lợi bất chính 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng).
- Trả lại số tiền 15.800.000₫ (Mười lăm triệu tám trăm nghìn đồng) cho các bị cáo vì không liên quan đến vụ án, cụ thể: Trả lại cho Nguyễn Văn H 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng); Trương Tấn P1 1.300.000đ (Một triệu ba trăm nghìn đồng); Nguyễn Văn L4 3.000.000₫ (Ba triệu đồng); Trịnh Văn Q 9.700.000₫ (Chín triệu bảy trăm nghìn đồng). (Tuy nhiên các bị cáo đang phải thi hành hình phạt tiền nên tiếp tục tạm giữ số tiền trên để đảm bảo thi hành án.)
- Buộc bị cáo Nguyễn Văn H giao nộp số tiền thu lợi bất chính 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng).
[6]Án phí:
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.Đối với một số người (không rõ lai lịch) tham gia đánh bạc từ ngày 31/01/2023 đến ngày 02/4/2023 tại Khu vui chơi Mậu Thìn của Nguyễn Văn H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
Đối với anh Nguyễn Kim Q1 cho Nguyễn Văn H thuê đất với mục đích để H kinh doanh, anh Q1 không biết việc H sử dụng quán để tổ chức đánh bạc nên không xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-Áp dụng điểm b khoản 1 điều 322; điểm h khoản 1 điều 52; điểm s khoản 1 điều 51, điều 58 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/02/2023.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn H số tiền: 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng).
-Áp dụng khoản 1, điều 321; điểm h khoản 1 điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 58 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P, Trịnh Văn Q, Trần Việt H1, Trần Công N6, Nguyễn Thanh T14, Lê Minh B, Trương Tấn P1 phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Trần Việt H1 06 (sáu) tháng 07(bảy) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/02/2023.
Xử phạt bị cáo Trịnh Văn Q 06 (sáu) tháng 07(bảy) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/02/2023.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T14 06 (sáu) tháng 7(bảy) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/02/2023.
Xử phạt bị cáoTrương Tấn Phước 06 (sáu) tháng 07(bảy) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/02/2023.
Xử phạt bị cáo Lê Minh B 06 (sáu) tháng 07 (bảy) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/02/2023.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 06 (sáu) tháng 07(bảy) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/02/2023.
Xử phạt bị cáo Trần Công N6 07(bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/02/2023.
Áp dụng điều 56 Bộ luật Hình sự 2015.
Tổng hợp hình phạt 10(mười) tháng tù về tội “Đánh bạc” tại bản án số 244/HSST ngày 31 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa. Buộc bị cáo Trần Công N6 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 17(mười bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/02/2023 được trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/9/2022 đến ngày 23/9/2022.
-Áp dụng khoản 1, điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 58 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ1, Võ Duy T9 phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ1 06 (sáu) tháng 07(bảy) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/02/2023.
Xử phạt bị cáo Võ Duy T9 số tiền 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng).
-Áp dụng khoản 1, điều 321; điểm i, s khoản 1 điều 51, điều 58 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L4, Đoàn Thị T13, Trần Quang T3 phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L4 số tiền 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng).
Xử phạt bị cáo Đoàn Thị T13 số tiền 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng).
Xử phạt bị cáo Trần Quang T3 số tiền 25.000.000đ(Hai mươi lăm triệu đồng).
Áp dụng khoản 5 điều 328 BLTTHS.
Tuyên trả tự do tại phiên tòa cho các bị cáo Trần Việt H1, Trịnh Văn Q, Trần Văn Đ1, Nguyễn Thanh T14, Trương Tấn P1, Nguyễn Văn P, Lê Minh B do thời hạn phạt tù bằng thời gian các bị cáo đã bị tạm giam.
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.- Tịch thu tiêu hủy 01 chén nhựa, 01 đĩa nhựa, 03 hột xí ngầu là công cụ các bị cáo sử dụng đánh bạc.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
- + Số tiền 24.520.000đ (Hai mươi bốn triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng) là
tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc và tiền thu lợi bất chính, cụ thể: 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) của Nguyễn Văn H; 1.000.000đ (Một triệu đồng) của Trần Văn Đ1; 350.000₫ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) của Lê Minh B; 50.000₫ (Năm mươi nghìn đồng) của Trương Tấn P1; 8.000.000đ (Tám triệu đồng) của Trần Việt H1 do T3 cất giữ; 250.000₫ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) của Trần Công N6; 700.000₫ (Bảy trăm nghìn đồng) của Nguyễn Văn L4; 270.000₫ (Hai trăm bảy mươi nghìn đồng) của Võ Duy T9; 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) của Trịnh Văn Q và 13.400.000đ (Mười ba triệu bốn trăm nghìn đồng) trên chiếu bạc.
- + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, số Imei 353854132430805 của Nguyễn Văn H và 01 điện thoại di động hiệu POCO X3 NFC của Trần Việt H1 sử dụng vào việc phạm tội.
- Buộc bị cáo Nguyễn Văn H giao nộp số tiền thu lợi bất chính 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng).
- Trả lại số tiền 15.800.000₫ (Mười lăm triệu tám trăm nghìn đồng) cho các bị cáo vì không liên quan đến vụ án, cụ thể: Trả lại cho Nguyễn Văn H 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng); Trương Tấn P1 1.300.000đ (Một triệu ba trăm nghìn đồng); Nguyễn Văn L4 3.000.000₫ (Ba triệu đồng); Trịnh Văn Q 9.700.000₫ (Chín triệu bảy trăm nghìn đồng).
(Tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/7/2023 và biên lai thu tiền số 2618 ngày 04/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Biên Hòa).
(Tuy nhiên các bị cáo đang phải thi hành hình phạt tiền nên tiếp tục tạm giữ số tiền trên để đảm bảo thi hành án.)
Án phí Hình sự sơ thẩm:
- Áp dụng điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Quyền kháng cáo:
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
|
Nguyễn Thị Phú |
* Nơi nhận:
- - Tòa án tỉnh Đ.
- - Sở tư pháp tỉnh Đồng
- - VKS TP Biên Hòa.
- - Thi hành án.
- - Bị cáo, đương sự
- - Công an TP B.
- - Lưu VP - HS
Bản án số 401/2023/HSST ngày 11/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về vụ án hình sự về tội "tổ chức đánh bạc" và "đánh bạc"
- Số bản án: 401/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Tổ chức đánh bạc" và "Đánh bạc"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Hiến + ĐP, "Đánh bạc". "Tổ chức đánh bạc"
