|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 401/2024/HNGĐ-ST Ngày: 02-7-2024 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thế Văn
Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Thanh Nhàn
Ông Nguyễn Thị Kim Chi
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu là thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng - Kiểm sát viên
Ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 39/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 278/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Bảo Q, sinh năm 1989 nơi cư trú: Số B, tổ F, ấp P, xã P, huyện P, An Giang. (xin vắng mặt)
- Bị đơn: Bà Phạm Thị Mỹ L, sinh năm 1993 nơi cư trú: Số C, tổ G, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 12 năm 2023 và lời khai của nguyên đơn ông Trần Bảo Q trình bày: Sau thời gian tìm hiểu, ông và bà Phạm Thị Mỹ L đi đến hôn nhân có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện P cấp giấy chứng nhận kết hôn số 66/2011 ngày 06/12/2011. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, vợ chồng không có mâu thuẫn nhưng không biết nguyên nhân gì bà L bỏ nhà đi từ năm 2016 đến nay, chỉ về nhà thăm con được một lần, vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Nay ông yêu cầu ly hôn bà L.
Ông và bà L có 01 con chung Trần Bảo L1, sinh năm 2011 ông đang nuôi dưỡng. Ông yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con. Ông và bà L không có tài sản chung, nợ chung.
Bị đơn bà Phạm Thị Mỹ L vắng mặt không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không có mặt là vi phạm Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho ông Trần Bảo Q được ly hôn với bà Phạm Thị Mỹ L. Ông Q và bà L có 01 con chung Trần Bảo L1, sinh năm 2011 từ năm 2016 đến nay ông Q nuôi dưỡng nên giao ông Q được tiếp tục nuôi con chung. Ông Q không yêu cầu nên không buộc bà L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Ông Q trình bày không có tài sản chung, nợ chung nên không xem xét giải quyết. Ông Q phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bị đơn có nơi cư trú xã P, huyện P, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn xin vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn không có mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Ông Q và bà L tự nguyện đi đến hôn nhân có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện P cấp giấy chứng nhận kết hôn số 66/2011 ngày 06/12/2011 là hôn nhân hợp pháp nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Ông Q cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn nhưng bà L bỏ nhà đi từ năm 2016 đến nay, chỉ về nhà thăm con được một lần. Qua xác minh địa phương thì không xác định được mâu thuẫn vợ chồng ông Q, bà L.
Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau…………”. Ông Q và bà L ly thân từ năm 2016 đến nay nhưng không còn thiện chí hàn gắn, điều này chứng minh mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không còn đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu, cho ông Q được ly hôn bà L.
[2.2] Về con chung: Ông Q và bà L có 01 con chung Trần Bảo L1, sinh năm 2011 đang sống với ông Q. Con chung từ năm 2016 đến nay ông Q là người trực tiếp nuôi dưỡng, ông Q yêu cầu tiếp tục được nuôi con chung phù hợp với nguyện vọng của cháu L1. Do đó, Hội đồng xét xử giao con chung cho ông Q được tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Q không yêu cầu nên nên không buộc bà L phải cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Ông Q trình bày không có tài sản chung, nợ chung nên không xem xét giải quyết.
[2.4] Về án phí: Ông Q phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bà L không phải chịu án hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 91, Điều 147, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Bảo Q.
- Về hôn nhân: Ông Trần Bảo Q được ly hôn với bà Phạm Thị Mỹ L.
- Về con chung: Cháu Trần Bảo L1, sinh năm 2011 ông Q đang nuôi dưỡng; giao con chung cho ông Q được tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Q không yêu cầu nên không buộc bà L cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Q và các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ tạo điều kiện bà L đến thăm nom, chăm sóc con chung; không ai được cản trở bà L thực hiện quyền này.
Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không cố định. Một trong các bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét việc thay đổi nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nếu có yêu cầu.
- Về tài sản chung; nợ chung: Không có.
- Về án phí: Ông Q phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006566 ngày 22 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Phú Tân.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thế Văn |
Bản án số 401/2024/HNGĐ-ST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 401/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Q xin ly hôn L
