|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 401/2025/HS-ST Ngày: 13/11/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thúy Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Huỳnh Tiến Dũng;
- 2. Ông Phạm Thế Hùng;
- Thư ký viên: Bà Đặng Thị Bình Minh- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2- Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh- Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 334/2025/TLST- HS ngày 10 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 400/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
H4 (tên gọi khác: không có), sinh năm: 1975 tại Q, Trung Quốc; thường trú: Q, Trung Quốc; nơi tạm trú và nơi ở: Căn hộ A chung cư H, Khu F, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: kinh doanh (khai tại phiên tòa); trình độ văn hóa: 12/12 (khai tại phiên tòa); dân tộc: Hán; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo (khai tại phiên tòa); quốc tịch: Trung Quốc; con ông: Huang Z, sinh năm: 1955 và bà: Zhang Mei Q, sinh năm: 1956; hoàn cảnh gia đình: có vợ tên là Hu Cai Y (chết năm 2022) và 01 con sinh năm: 2010; tiền án, tiền sự; không;
Bị tạm giam từ ngày 17/12/2024 đến nay; (có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
- Ông Hồng Vũ T, sinh năm: 1976;
Thường trú: Túy Loan Đông 2, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng (nay là xã Hòa Vang, Thành phố Đà Nẵng);
Chỗ ở: số 33, đường Phan Đình Phùng, Tổ dân phố 1, thị trấn Măng Đen, huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum (nay là xã Măng Đen, tỉnh Quảng Ngãi);
(vắng mặt tại phiên tòa);
-
- Hộ Kinh doanh Mai Xuân T1;
Địa chỉ trụ sở: 806 Quốc lộ A, khu phố D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh);
Chủ hộ kinh doanh: Ông Mai Xuân T1, sinh năm: 1978;
Địa chỉ: 5 X, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh);
(có mặt tại phiên tòa);
-
- Ông Đinh Xuân T2, sinh năm: 1974;
Địa chỉ: C T, phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Phường B, Thành phố Hồ Chí Minh);
(vắng mặt tại phiên tòa);
-
- Ông Phạm Công T3, sinh năm: 1996;
Địa chỉ: số nhà D, ấp H, xã A, thành phố T, tỉnh Long An (nay là phường T, tỉnh Tây Ninh);
(vắng mặt tại phiên tòa);
-
Người phiên dịch: Bà Trần Lê N, sinh năm: 2001;
Là phiên dịch viên tiếng Hoa của Công ty TNHH T5;
Địa chỉ trụ sở chính: Tầng A, Tòa Nhà H, D N, phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh);
Đại diện pháp luật: Ông Nguyễn Thế V, chức danh: Giám đốc;
(bà N có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Huang Ziming (sinh năm 1975; quốc tịch: Trung Quốc) nhập cảnh vào Việt Nam lần đầu vào khoảng tháng 09/2024 với thị thực du lịch và ở nhờ tại căn hộ B Chung cư M, số E K, phường A, quận B (nay là phường A), Thành phố Hồ Chí Minh của một người bạn tên Luo H (sinh năm: 1972; quốc tịch: Trung Quốc).
Quá trình cư trú tại Việt Nam, khoảng tháng 09/2024, tại một quán ăn trên địa bàn quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (không rõ địa chỉ) Huang Z1 gặp một người đàn ông Việt Nam chào hàng bán thuốc lá điếu. Huang Ziming đã đặt mua của người đàn ông này 09 thùng với tổng số lượng là 4.500 bao với giá tiền 1.000 USD (quy cách đóng gói: 01 thùng có 50 cây, mỗi cây có 10 bao, mỗi bao có 20 điếu). Đặt hàng xong, người đàn ông này giao hàng trực tiếp đến địa chỉ chung cư nơi Huang Z1 đang ở nhờ và thanh toán bằng tiền mặt. Số lượng 4.500 bao thuốc lá điếu này Huang Z1 cất giấu tại căn hộ chung cư để sử dụng và có tặng cho bạn bè, người quen (Lou H1 không biết việc cất giữ thuốc lá của Huang Z1).
Khi sắp hết thời hạn trên thị thực được cấp, Huang Ziming xuất cảnh qua Campuchia để làm thủ tục đề nghị cấp mới và được cấp thị thực mới theo diện du lịch với thời hạn từ ngày 29/11/2024 đến ngày 25/02/2025. Ngày 06/12/2024, Huang Z1 nhập cảnh vào lại Việt Nam qua cửa khẩu M, tinh T. Khi quay lại Việt Nam, Huang Z1 thuê và chuyển về sống tại Căn hộ 12A02 Chung cư H, địa chỉ số B Đại lộ B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh);
Khoảng đầu tháng 12/2024, Huang Z1 sử dụng xe ô tô hiệu Toyota Fortuner, biển kiểm soát: 43A-863.71 đến căn hộ B Chung cư M để chở một phần số thuốc lá điếu đưa về Căn hộ A Chung cư H cất giữ. Đến ngày 09/12/2024, khi Huang Z1 sử dụng xe ô tô hiệu Toyota Fortuner, biển kiểm soát: 43A-863.71 chở 245 cây (2.450 bao) thuốc lá điếu trên xe đi chung với một người phụ nữ tên T4 (không rõ nhân thân, lai lịch) về căn hộ A Chung cư H, trên đường di chuyển đến khu vực thuộc phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị lực lượng Cảnh sát giao thông yêu cầu dừng xe để kiểm tra do vi phạm giao thông lỗi vượt đèn đỏ. Người phụ nữ tên T4 xuống xe gặp lực lượng Cảnh sát giao thông để xin bỏ qua lỗi phạt nhưng lực lượng Cảnh sát giao thông yêu cầu người trực tiếp điều khiển phương tiện phải xuống xe để xuất trình giấy tờ. Lúc này, Huang Z1 còn ngồi trên xe bất ngờ điều khiển xe bỏ chạy, lực lượng Cảnh sát giao thông truy đuổi đến giao lộ đường V và đường T thuộc phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì dừng được phương tiện, khống chế Huang Z1 đưa về trụ sở Công an phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để làm rõ, người phụ nữ tên T4 lợi dụng lúc Công an truy đuổi H5 đã bỏ đi (hiện nay Cơ quan điều tra chưa lấy được lời khai của người phụ nữ tên T4 vì không có thông tin lai lịch);
Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố T (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an Thành phố H) đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Huang Z1 tại Căn hộ A Chung cư H, địa chỉ số B Đại lộ B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì thu giữ thêm được 146 cây (1.460 bao) thuốc lá điếu, trên bao bì là chữ Trung Quốc giống như số thuốc lá đã thu giữ trên xe của Huang Ziming;
Tiến hành đưa Huang Z1 đi xác định địa điểm nơi gặp gỡ người đàn ông bán số thuốc lá điếu nêu trên tại quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo lời khai nhưng Huang Z1 không xác định được;
Tại Cơ quan điều tra, H4 khai nhận mục đích mua số lượng 4.500 bao thuốc lá điếu này là để bản thân sử dụng. Ngoài ra, trong quá trình sử dụng H4 còn biếu tặng bạn bè người quen. Từ thời điểm mua vào khoảng tháng 09/2024 đến khi bị Cơ quan Công an phát hiện thu giữ vào ngày 09/12/2024 thì Huang Z1 đã sử dụng và biếu tặng hết 590 bao;
* Kết quả trưng cầu giám định:
- - Cơ quan điều tra đã tiến hành đưa mẫu thuốc lá điếu này đến H6 để giám định. Căn cứ Văn bản phúc đáp số 224/CV-2024 HHTLVN ngày 16/12/2024 của H6 thì số thuốc lá điếu này là thuốc lá điếu nhập lậu;
- - Đối với xe ô tô hiệu Toyota Fortuner, BKS: 43A-863.71 thì H4 khai mua vào tháng 09/2024 và nhờ người khác đứng tên trên Hợp đồng mua xe tại Cửa hàng mua bán xe ô tô số 806 Quốc lộ A, khu phố D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;
Tiến hành xác minh được biết tại địa chỉ trên là Hộ Kinh doanh Mai Xuân T1 với ngành nghề kinh doanh là mua bán xe ô tô và phụ tùng xe ô tô do ông Mai Xuân T1 (sinh năm: 1978) là chủ hộ. Qua tra cứu dữ liệu phương tiện giao thông đường bộ tại Phòng Cảnh sát giao thông - Công an Thành phố H thì người đứng tên chủ sở hữu là ông Hồng Vũ T (sinh năm: 1976). Ngày 21/8/2024, ông T có ký Hợp đồng ủy quyền có công chứng cho ông Đinh Xuân T2 là nhân viên của cửa hàng thực hiện việc mua bán theo đúng quy định. Sau đó, ông T2 ký Hợp đồng ký gửi bán xe ô tô cho ông mai Xuân T1 để thực hiện việc mua bán chiếc xe ô tô trên;
Qua xác minh, tại cửa hàng mua bán xe, xác định: Ngày 28/9/2024, có một người khách Trung Quốc đi chung với một người đàn ông Việt Nam đến cửa hàng để mua xe ô tô. Sau khi xem xét, người đàn ông Trung Quốc này đã chốt mua chiếc xe ô tô hiệu Toyota Fortuner, biển kiểm soát 43A-863.71 với giá 740.000.000 đồng. Người đàn ông Trung Quốc nhờ người đàn ông Việt Nam đi chung đến đứng tên trên giấy tờ mua bán nhưng tiền là do người đàn ông Trung Quốc trả. Người đứng tên trên giấy tờ mua bán là Phạm Công T3 (sinh năm: 1996);
Tiến hành cho ông Mai Xuân T1 nhận dạng qua ảnh, kết quả: ông T1 xác định người đàn ông Trung Quốc đã đến cửa hàng và mua chiếc xe ô tô hiệu Toyota Fortuner, BKS: 43A-863.71 chính là Huang Z1;
Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an Thành phố H tiếp tục liên hệ xác minh mời làm việc đối với ông Hồng Vũ T và ông Phạm Công T3, kết quả xác định: Phạm Công T3 chỉ là người đứng tên giúp H, tiền mua xe do H4 trả, chiếc xe thuộc quyền sở hữu của Huang Z1;
* Về việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:
- - 01 (một) xe ô tô biển số 43A-863.71;
- - 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 43000596 mang tên Hồng Vũ T;
- - 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: DA5518913 do Trung tâm đăng kiếm xe cơ giới 61-03D cấp ngày 01/6/2023;
- - 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô biển số 43A-863.71 có giá trị đến ngày 15/01/2025;
- - 391 cây thuốc lá điếu (trên bao bì có ghi chữ Honghua hoặc Xiang);
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu HUA WEI 30 PRO 5G (đã qua sử dụng);
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 (đã qua sử dụng);
Tại bản Cáo trạng số 621/CT- VKS ngày 21/8/2025, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Huang Z1 về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm e khoản 2 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tại phiên tòa:
- - Bị cáo Huang Z1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố;
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Huang Z1 về tội “Tàng trữ hàng cấm”, đồng thời đề nghị: Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 191, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Huang Z1 từ 03 năm đến 04 năm tù giam;
Áp dụng khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, phạt tiền bị cáo Huang Z1 từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng;
- Bị cáo không tranh luận về hành vi phạm tội, lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Huang Z1 có quốc tịch Trung Quốc- là người nước ngoài thực hiện hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam. Căn cứ vào điểm b khoản 5 Điều 163 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 quy định về Thẩm quyền điều tra thì vụ án thuộc thẩm quyền của điều tra của cấp tỉnh. Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán- Tòa án nhân dân tối cao quy định hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân thì vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân khu vực 2- Thành phố Hồ Chí Minh;
[2] Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập được và kết quả tranh luận tại phiên tòa có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 09/12/2024; bị cáo Huang Z1 điều khiển xe ô tô hiệu Toyota Fortuner biển số 43A- 863.71 tàng trữ trên xe 245 cây (2.450 bao) thuốc lá điếu trên xe đi chung với người phụ nữ tên T4 (không rõ nhân thân, lai lịch) đến đoạn đường N- P, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) thì bị Công an giao thông yêu cầu dừng lại do có hành vi vượt đèn đỏ; T4 xuống xe gặp Công an thì bị cáo bất ngờ điều khiển xe bỏ chạy; Công an truy đuổi bị cáo đến đường V- T, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) thì bị cáo bị bắt giữ cùng tang vật. Khám xét khẩn cấp địa chỉ cư trú của bị cáo tại Căn hộ A chung cư H, khu F, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) thu giữ thêm 146 cây (1.460 bao) thuốc lá điếu, các vật chứng thu giữ trên bao thuốc lá là chữ Trung Quốc; ngày 17/12/2024, Công an phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) tiến hành bắt giữ bị cáo;
Căn cứ vào Công văn số 224/CV-2024 HHTLVN ngày 16/12/2024 của H6 thì 391 cây (3.910 bao) thuốc lá điếu là nhập lậu.
Như vậy, căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo, được xác định phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tang vật chứng thu giữ được. Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Huang Z1 phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng cho xã hội, thực hiện với quyết tâm cao, xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý của Nhà nước về hàng hóa; gây ảnh hưởng đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực xuất nhập khẩu; gây mất tình hình trật tự trị an tại địa phương, bị cáo có hành vi tàng trữ 3.910 bao thuốc lá. Đây là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm e khoản 2 của điều luật đã viện dẫn.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu; chưa có tiền án, tiền sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; giảm cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
[4] Về xử lý vật chứng:
- - 01 điện thoại di động kiểu dáng hiệu Iphone 13 và 01 điện thoại di động kiểu dáng hiệu Huawei 30 PRO 5G- các vật chứng này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo;
- - 389 cây thuốc lá điếu, gồm: 202 cây thuốc lá điếu có bao bì màu vàng, trên bao bì có chữ Honghua; 183 cây thuốc lá điếu có bao bì màu xanh, trên bao bì có chữ Xiang; 04 cây (trên bao ghi chữ Honghua và X)- vật chứng thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy;
- - 01 xe ô tô hiệu Toyota Fortuner biển số 43A-863.71. Qua điều tra, xác minh chủ sở hữu hợp pháp là ông Hồng Vũ T; ngày 21/8/2024, ông T ký Hợp đồng ủy quyền số 002737 ngày 21/8/2024 cho ông Đinh Xuân T2 (là nhân viên của Hộ kinh doanh Mai Xuân T1), ông T đã nhận đủ số tiền 700.000.000 đồng là tiền bán chiếc xe ô tô nêu trên. Ngày 21/8/2024, ông Đinh Xuân T2 ký Hợp đồng ký gửi bán xe ô tô số 4858/2024/HĐKG với ông Mai Xuân T1 đối vối chiếc xe ô tô nêu trên;
Sau khi nhập cảnh vào Việt Nam, bị cáo có nhu cầu mua xe ô tô để di chuyển nên đến cửa hàng xe ô tô số 806 Quốc lộ A, khu phố D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh) là H2 kinh doanh Mai Xuân T1 do ông Mai Xuân T1 làm đại diện hợp pháp; do bị cáo là người nước ngoài không thể trực tiếp thực hiện thủ tục mua bán nên bị cáo nhờ ông Phạm Công T3 đứng ra giao dịch mua bán xe ô tô hiệu Toyota Fortuner biển số 43A-863.71, trị giá mua bán chiếc xe là 740.000.000 đồng- số tiền này bị cáo là người trực tiếp chi trả; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, lời trình bày này của bị cáo phù hợp với lời khai của ông Phạm Công T3 và ông Mai Xuân T1 nên có căn cứ xác định chiếc xe ô tô trên thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo, được bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước chiếc xe ô tô nêu trên;
- - 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 43000596 do Công an huyện H- Công an Thành phố Đ cấp ngày 15/01/2024 mang tên Hồng Vũ T (địa chỉ: Túy Loan Đ, H, H, Đà Nẵng); 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: DA5518913 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 61-03D cấp ngày 01/6/2023; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô biển số 43A-863.71 có giá trị đến ngày 15/01/2025- các vật chứng này là vật chứng liên quan đến chiếc xe ô tô biển số 43A- 863.71 nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước các vật chứng nêu trên;
- [5] Ngoài ra, căn cứ vào mức độ và hậu quả do bị cáo gây ra, cần vận dụng khoản 4 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 phạt bị cáo nộp số tiền tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước;
- [6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định;
Đối với người với người phụ nữ tên T4 (không rõ nhân thân, lai lịch) đi cùng xe với bị cáo khi bị cáo có hành vi tàng trữ hàng cấm; đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an Thành phố H tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Huang Z1 (tên gọi khác: không có) phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”;
-
Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Huang Z1 (tên gọi khác: không có) 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 17/12/2024;
Áp dụng khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Phạt tiền bổ sung bị cáo Huang Z1 số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng để nộp vào ngân sách nhà nước ngay sau khi bản án có hiệu lực thi hành;
-
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- * Tịch thu, tiêu hủy: 389 (ba trăm tám mươi chín) cây thuốc lá điếu, gồm: 202 (hai trăm lẻ hai) cây thuốc lá điếu có bao bì màu vàng, trên bao bì có chữ Honghua; 183 (một trăm tám mươi ba) cây thuốc lá điếu có bao bì màu xanh, trên bao bì có chữ Xiang; 04 (bốn) cây (trên bao ghi chữ H3 và X);
-
* Trả lại cho bị cáo:
- - 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng hiệu IPHONE 13;
- - 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng hiệu HUAWEI 30 PRO 5G;
-
* Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
- - 01 (một) xe ô tô biển số 43A-863.71 màu trắng, nhãn hiệu Toyota, số loại: Fortuner; số khung: MHFHX3FS0H0301179; số máy: A3191802TR;
- - 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 43000596 do Công an huyện H- Công an Thành phố Đ cấp ngày 15/01/2024 mang tên Hồng Vũ T (địa chỉ: Túy Loan Đ, H, H, Đà Nẵng);
- - 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: DA5518913 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 61-03D cấp ngày 01/6/2023;
- - 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô biển số 43A- 863.71 có giá trị đến ngày 15/01/2025;
- (Theo Phiếu nhập kho số PNK25/212-2 ngày 30/9/2025 của Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh);
-
Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm;
-
Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị cáo, Hộ Kinh doanh Mai Xuân T1 (do ông Mai Xuân T1 là đại diện hợp pháp) có quyền kháng cáo bản án xin xét xử phúc thẩm. Đường sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật;
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thúy Nga |
Bản án số 401/2025/HS-ST ngày 13/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - tàng trữ hàng cấm
- Số bản án: 401/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ hàng cấm
