|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- ĐÀ NẴNG Bản án số: 400/2025/HNGĐ-ST Ngày 23/12/2025 V/v “Ly hôn” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thanh Thủy.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Lệ Thủy và ông Nguyễn Văn Đời
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thái Phương Dung - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2- Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 232/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 232/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/11/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 141/2025/QĐST-HN ngày 04/12/2025 giữa các đương sự:
*Nguyên đơn Bà Trần Nguyễn Khánh L, sinh năm 1994. CCCD số [...] cấp ngày 22/12/2021. Nơi cư trú: K T, phường N, thành phố Đà Nẵng; Có mặt.
*Bị đơn: Ông Huỳnh Duy V, sinh năm 1994. CCCD số [...] cấp ngày 19/10/2023, Nơi cư trú: số C Nai H, phường S, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn xin ly hôn, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay nguyên đơn bà Trần Nguyễn Khánh L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Huỳnh Duy V kết hôn năm 2024, hôn nhân tự nguyện có thời gian tìm hiểu nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, quận S (cũ), nay là phường S, TP Đà Nẵng. Giấy đăng ký kết hôn số 17 ngày 29 tháng 1 năm 2024. Vợ chồng sống một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, quan điểm sống mỗi người khác nhau nên chúng tôi thường hay xung đột, cải vả. Mâu thuẫn được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 4/2025, không ai quan tâm, chăm sóc nhau trong cuộc sống. Nay về tình cảm tôi xác định không còn yêu thương anh Huỳnh Duy V nữa nên xin tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Huỳnh Duy V.
- Về quan hệ con chung: Tôi và anh Huỳnh Duy V không có con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Nguyễn Khánh L xác định không có.
* Bị đơn trong quá trình tham gia tố tụng ông Huỳnh Duy V không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Đà Nẵng:
- Về thủ tục tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử cũng như việc chấp hành pháp luật của nguyên kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án; bị đơn không chấp hành nghiêm pháp luật, vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
-Về nội dung vụ án:
+ Về hôn nhân: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 56 Luật HNGĐ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Nguyễn Khánh L về việc ly hôn. Đề nghị HĐXX xử cho bà Trần Nguyễn Khánh L được ly hôn với ông Huỳnh Duy V.
+ Về con chung, tài sản chung và nợ chung: không có nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1].Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tranh chấp ly hôn bà Trần Nguyễn Khánh L và ông Huỳnh Duy V thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2- Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho đương sự vắng mặt theo quy định tại Điều 208, 209, 210, 211 của BLTTDS. Tại phiên tòa hôm nay, Nguyên đơn không xuất trình thêm chứng cứ mới.
Tại phiên toà lần thứ nhất ngày 04/12/2025 và cũng như phiên toà hôm nay Toà án đã triệu tập hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà đối với bị đơn, nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Trần Nguyễn Khánh L thì thấy:
[2.1]Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Nguyễn Khánh L và ông Huỳnh Duy V kết hôn năm 2024, có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, quận S (cũ), nay là phường S, TP Đà Nẵng. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện.
Theo bà L trình bày: Nguyên nhân chính dẫn đến việc ly hôn là do không hòa hợp, không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Mâu thuẫn được hai bên gia đình hòa giải, nhưng không có kết quả. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2024 đến nay, không ai quan tâm chăm sóc nhau trong cuộc sống. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng đã hết, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu Toà án giải quyết cho bà L được ly hôn với ông V.
Theo xác minh tại UBND phường S, TP . thì cuộc sống vợ chồng giữa bà L và ông V có mâu thuẫn, còn mâu thuẫn cụ thể như thế nào thì địa phương không rõ, chỉ biết hiện nay bà L và ông V đã không còn chung sống với nhau, ông V đang sinh sống tại nhà cha mẹ ruột của ông V.
Trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa hôm nay ông V không đến Tòa án để trình bày ý kiến và tham gia tố tụng điều này thể hiện ông V không có mong muốn đoàn tụ, bỏ mặc cho mâu thuẫn gia đình ngày càng trầm trọng, thể hiện thái độ không tôn trọng pháp luật nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt này. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà L và ông V đã không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà L yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật HNGĐ năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2]. Về quan hệ con chung: Bà L xác nhận không có con chung nên không xét.
[2.3].Về tài sản chung và nợ chung: bà L khai không có nên không xét.
Nếu sau này có tranh chấp về vấn đề tài sản chung, nợ chung thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.
[2.4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì án phí HNGĐ sơ thẩm là 300.000 đồng bà L phải nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Các Điều 51, 53, 54,56,58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Trần Nguyễn Khánh L đối với ông Huỳnh Duy V.
Tuyên xử: Bà Trần Nguyễn Khánh L; sinh năm: 1994 được ly hôn với ông Huỳnh Duy V; sinh năm: 1994.
Giấy chứng nhận kết hôn số 17 do UBND phường N, quận S (cũ), nay là phường S, TP Đà Nẵng cấp ngày 29/01/2024 không còn giá trị pháp lý.
2. Về quan hệ con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có nên xem xét giải quyết.
3. Về án phí: Án phí HNGĐ sơ thẩm 300.000 đồng bà L phải nộp, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0003036 ngày 07/10/2025 tại Thi hành án TP Đà Nẵng.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Thanh Thủy |
Bản án số 400/2025/HNGĐ-ST ngày 23/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- ĐÀ NẴNG về ly hôn
- Số bản án: 400/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà Nguyễn Trần Khánh L kiện xin ly hôn với ông Huỳnh Duy V
