Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 400/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05 – 12–2024

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Văn Hồng và bà Dương Thị Thúy Duy.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàn Mỹ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 279/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1072/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 1089/2024/QÐST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Hồ Hoàng E, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ A, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bích P, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ A, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.

Ông Hồ Hoàng E vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bà Nguyễn Thị Bích P vắng mặt không rõ lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của ông Hồ Hoàng E; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Hồ Hoàng E và bà Nguyễn Thị Bích P tự tìm hiểu, quen biết và được gia đình cho tiến đến hôn nhân vào năm 1998, có tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn thì đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện A, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 70, quyển số 01 ngày 29/10/2002. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến khoảng năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống gia đình, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã. Gia đình hai bên đã động viên, hòa giải để cả hai tiếp tục chung sống. Tuy nhiên, quá trình chung sống vẫn phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Đến tháng 04/2024 thì bà P bỏ nhà đi, cả 02 sống ly thân từ đó cho đến nay. Trước khi bỏ đi, ông E và bà P có làm đơn thỏa thuận ly hôn ngày 13/4/2024. Nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên ông E yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Bích P.

Về con chung: Quá trình chung sống có 02 con chung là cháu Hồ Minh T, sinh ngày 06/6/1999 và cháu Hồ Nhựt H, sinh ngày 08/02/2006. Hiện cháu T và cháu H đã trưởng thành, có việc làm ổn định nên ông E không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập bà Nguyễn Thị Bích P để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 25/10/2024 nhưng bà P vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà P, bà P cũng không cung cấp văn bản ghi nhận ý kiến của mình đối với yêu cầu của ông E và các tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

Về tài liệu, chứng cứ:

Các tài liệu, chứng cứ do ông Hồ Hoàng E giao nộp: Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 70 ngày 29/10/2002 của UBND xã V (bản sao); Bản tự khai mang tên Hồ Hoàng E (bản chính); Căn cước công dân mang tên Hồ Hoàng E (bản photo); Căn cước công dân mang tên Hồ Nhựt H (bản photo); Giấy khai sinh mang tên Hồ Minh T (bản sao); Đơn thỏa thuận giữa vợ chồng ngày 13/4/2024 (bản chính); bản chính Bản tự khai mang tên Hồ Minh T và Hồ Nhựt H cùng ngày 22/10/2024.

Các tài liệu, chứng cứ do bà Nguyễn Thị Bích P giao nộp: Không.

Các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập: Biên bản xác minh tại Công an xã V, huyện A ngày 22/10/2024.

Tại phiên tòa, do ông E và bà P đều vắng mặt nên Hội đồng xét xử công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Theo biên bản xác minh ngày 22/10/2024, đại diện Công an xã V, huyện A, tỉnh An Giang: Bà Nguyễn Thị Bích P, sinh năm 1979 trước đây có đăng ký hộ khẩu thường trú và thường xuyên sinh sống tại địa chỉ: Tổ A, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang. Hiện nay bà P không còn sinh sống tại địa chỉ nêu trên, không rõ nơi cư trú mới.

Theo bản tự khai ngày 22/10/2024, Hồ Minh T và Hồ Nhựt H cùng cho biết: Hồ Minh T và Hồ Nhựt H là con ruột của ông Hồ Hoàng E, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị Bích P, sinh năm 1979. Ông E và bà P cùng cư trú tại địa chỉ: Tổ A, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang. Quá trình chung sống, ông E và bà P chung sống không hạnh phúc, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Cả hai đã sống ly thân nhau từ tháng 04/2024 cho đến nay, không hàn gắn tình cảm mặc dù đã được sự động viên, hòa giải từ hai bên gia đình. Ông E và bà P đã làm tờ thỏa thuận chấm dứt quan hệ hôn nhân, T và H cùng xác nhận chữ ký và chữ viết tên Nguyễn Thị Bích P trong tờ thỏa thuận này là của bà P.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Hồ Hoàng E; về con chung, do con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động nên đề nghị không xem xét, giải quyết; ông E khai không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên không đề cập giải quyết. Về án phí: Ông E phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Các bên đương sự xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho tòa án; không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng bị đơn bà Nguyễn Thị Bích P đều vắng mặt không rõ lý do; đồng thời bà P đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do. Như vậy, bà P đã tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình. Ông Hồ Hoàng E có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải và yêu cầu được vắng mặt khi vụ án được đưa ra xét xử. Do đó, vụ án được xem không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố Tụng dân sự năm 2015 và Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thẩm quyền giải quyết:

Bà Nguyễn Thị Bích P1 có nơi thường trú tại: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang theo quy định tại các điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và quy định tại khoản 1 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Quá trình chung sống, ông Hồ Hoàng E và bà Nguyễn Thị Bích P phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Ông E và bà P đã sống ly thân nhau từ tháng 04/2024 cho đến nay, không hàn gắn tình cảm. Gia đình cũng đã động viên, hòa giải nhưng không thể hàn gắn. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa ông E và bà P đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông E theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3.2] Về con chung: Quá trình chung sống có 02 con chung tên: Hồ Minh T, sinh ngày 06/6/1999 và Hồ Nhựt H, sinh ngày 08/02/2006. Hiện cả 02 con chung đã trưởng thành, có việc làm ổn định nên ông E không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Ông Hồ Hoàng E không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên nếu sau này bà P có yêu cầu về tài sản chung thì Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.

[4] Về án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác: Ông Hồ Hoàng E phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bà Nguyễn Thị Bích P không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Ông Hồ Hoàng E và bà Nguyễn Thị Bích P có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; các điều 147, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Hoàng E.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Hồ Hoàng E được ly hôn với bà Nguyễn Thị Bích P.
  2. Về án phí sơ thẩm: Ông Hồ Hoàng E phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, số tiền này được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí mà ông E đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010021 ngày 09/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú, tỉnh An Giang.
  3. Bà Nguyễn Thị Bích P không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Án tuyên công khai vắng mặt ông Hồ Hoàng E và bà Nguyễn Thị Bích P. Ông E và bà P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
  5. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện An Phú;
  • - THADS huyện An Phú;
  • - UBND xã Vĩnh Hậu, huyện An Phú;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Tuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 400/2024/HNGĐ-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn

  • Số bản án: 400/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Ông Hồ Hoàng E và bà Nguyễn Thị Bích P tự tìm hiểu, quen biết và được gia đình cho tiến đến hôn nhân vào năm 1998, có tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn thì đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện A, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 70, quyển số 01 ngày 29/10/2002. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến khoảng năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống gia đình, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã. Gia đình hai bên đã động viên, hòa giải để cả hai tiếp tục chung sống. Tuy nhiên, quá trình chung sống vẫn phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Đến tháng 04/2024 thì bà P bỏ nhà đi, cả 02 sống ly thân từ đó cho đến nay. Trước khi bỏ đi, ông E và bà P có làm đơn thỏa thuận ly hôn ngày 13/4/2024. Nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên ông E yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Bích P. Về con chung: Quá trình chung sống có 02 con chung là cháu Hồ Minh T, sinh ngày 06/6/1999 và cháu Hồ Nhựt H, sinh ngày 08/02/2006. Hiện cháu T và cháu H đã trưởng thành, có việc làm ổn định nên ông E không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger