Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 400/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20 - 9 - 2024

Về “Tranh chấp Hôn nhân

và gia đình”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Thúy Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Ngọc Đăng; bà Bùi Thị Hoa.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Châu - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa : Không.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 317/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 391/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Sầm Thị H, sinh ngày 09/8/1986;. Địa chỉ: bản H, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có văn bản xin vắng mặt).
  2. Bị đơn: anh Nguyễn Đăng B, sinh ngày 20/8/1980; Địa chỉ trước khi xuất cảnh: bản H, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú hiện nay: M - B - S.4, 10369 Becrlin, Cộng hòa Liên bang Đ. Vắng mặt (có văn bản xin vắng mặt).

- Người được bị đơn ủy quyền giao, nhận các tài liệu: chị Nguyễn Thị V. Địa chỉ: xóm M, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ đơn xin ly hôn, bản tự khai, lời trình bày của nguyên đơn - chị Sầm Thị H như sau:

Chị Sầm Thị H, anh Nguyễn Đăng B tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương tháng 01/2006 và về sống chung với nhau đến khi có con chung. Đến ngày 01/3/2012 mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau 7 năm kết hôn thì chị H, anh B1 phát sinh mâu thuẫn. Năm 2013, vợ chồng thống nhất để B đi xuất khẩu lao động ra nước ngoài để cải thiện kinh tế cho gia đình, nhưng thực tế anh B không gửi tiền về cho gia đình. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng sống xa nhau, không tin tưởng lẫn nhau, nên vợ chồng mất hết tình cảm, quan điểm sống của vợ chồng khác nhau đã hơn 11 năm anh B chưa về nước lần nào, vợ chồng không quan tâm đến nhau nữa, ly hôn để giải thoát cho nhau. Nay chị H không còn tình cảm với anh B nữa, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Đăng B.

Về con chung: chị H, anh B có 02 con chung Nguyễn Đăng Q, sinh ngày 19 tháng 8 năm 2006 và Nguyễn Đăng Q1, sinh ngày 07 tháng 8 năm 2012. Từ khi anh B đi xuất khẩu lao động hai con chung sống cùng chị H. Ly hôn, chị H mong muốn được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai, đề ngày 10/7/2024, bị đơn – anh Nguyễn Đăng B trình bày (có xác nhận của Đ1 tại Cộng hòa liên bang Đ2): anh Nguyễn Đăng B thừa nhận về điều kiện, thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn như chị Sầm Thị H đã trình bày. Năm 2013, anh B đi xuất khẩu lao động, nhưng khi xa nhau thì vợ chồng không tin tưởng lẫn nhau, thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn. Ban đầu vợ chồng còn liên lạc với nhau, sau đó thưa dần vì cứ gặp nhau trên điện thoại là cãi nhau, từ đó anh B chỉ liên lạc về với con, không liên lạc về với vợ nữa. Tính đến nay vợ chồng đã xa nhau 11 năm, tình cảm vợ chồng không còn, vì vậy chị H xin ly hôn thì anh đồng ý.

Về con chung: anh B và chị H có 02 con chung Nguyễn Đăng Q, sinh ngày 19 tháng 8 năm 2006 và Nguyễn Đăng Q1, sinh ngày 07 tháng 8 năm 2012. Ly hôn, anh B đồng ý giao hai con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Việc cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận.

Về tài sản chung: anh B không yêu cầu Toà án giải quyết.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không tiên hành thu thập chứng cứ, nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa theo qui định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.1] Về thẩm quyền: bị đơn anh Nguyễn Đăng B có địa chỉ cư trú tại xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nơi ở hiện nay: M - B - S.4, 10369 Becrlin, Cộng hòa Liên bang Đ, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; khoản 2 Điều 38, Điều 39 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 122, 123 và 127 Luật hôn nhân và gia đình.

[1.2] Về thủ tục hòa giải: vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được, vì anh B hiện nay đang ở Cộng hòa liên bang Đức, có yêu cầu không tiến hành hòa giải theo qui định tại khoản 2 và khoản 4 điều 207 của Bộ luật tố tụng dân,

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự:

Đối với nguyên đơn chị Sầm Thị H, vì lý do bận công việc và đi lại khó khăn, không có mặt để tham gia phiên tòa và đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Đối với bị đơn: căn cứ bản tự khai, đề ngày 10/7/2024, anh Nguyễn Đăng B trình bày (có xác nhận của Đ1 tại Cộng hòa liên bang Đ2), thể hiện: vì công việc làm ăn xa ở nước ngoài, nên anh không thể về Việt Nam giải quyết vụ án được, đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: căn Giấy trích lục kết hôn số 60 ngày 14/6/2024 của Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An thì quan hệ hôn nhân giữa chị Sầm Thị H và anh Nguyễn Đăng B là hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh B, chị H chung sống hạnh phúc. Sau thời gian chung sống thì chị H, anh B phát sinh mâu thuẫn. Năm 2013 anh B đi xuất khẩu lao động tại Cộng hòa liên bang Đ từ đó đến nay chưa về Việt Nam lần nào, cuộc sống vợ chồng xa cách, không quan tâm đến nhau. Chị H yêu cầu ly hôn, anh B đồng ý. Xét tình trạng tình cảm vợ chồng giữa chị Sầm Thị H và anh Nguyễn Đăng B không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Sầm Thị Hải ly H1 anh Nguyễn Đăng B.

2.2. Về con chung: chị Sầm Thị H và anh Nguyễn Đăng B có 02 con chung Nguyễn Đăng Q, sinh ngày 19 tháng 8 năm 2006 và Nguyễn Đăng Q1, sinh ngày 07 tháng 8 năm 2012. Chị H và anh B đã thỏa thuận chị H nuôi dưỡng con chung và chị H không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi nuôi con chung. Xét: sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không trái qui định pháp luật và đạo đức xã hội, phù hợp với nguyện vọng của cháu Q1, cháu Q nên cần chấp nhận.

Về cấp dưỡng: do chị H chưa yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2.3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Sầm Thị H, anh Nguyễn Đăng B không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí sơ thẩm: chị Sầm Thị H phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123 và Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; 37, 38, 39 Điều 147; khoản 2, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật tố dụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Sầm Thị H.

  1. Về hôn nhân: chị Sầm Thị H được ly hôn anh Nguyễn Đăng B.
  2. Về con chung: ghi nhận sự thỏa thuận của các bên như sau:

Giao chị Sầm Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Đăng Q, sinh ngày 19 tháng 8 năm 2006 và Nguyễn Đăng Q1, sinh ngày 07 tháng 8 năm 2012 đến đủ 18 tuổi, trưởng thành.

Về cấp dưỡng: Hội đồng xét xử không giải quyết.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không giải quyết.
  2. Về án phí: chị Sầm Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai số 0013000 ngày 08/7/2024.
  3. Về quyền kháng cáo:
  • - Chị Sầm Thị H, vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
  • - Anh Nguyễn Đăng B, đang cư trú tại nước ngoài, vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Châu Tiến;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thúy Quỳnh

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 400/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 400/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger