TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 400/2024/HNGĐ-ST Ngày: 19 - 9 - 2024 V/v tranh chấp xin ly hôn | ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Yến Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Mỹ Lil
Ông Bùi Xuân Minh
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Trúc Linh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 454/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 366/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Danh Thị L, sinh năm 1987 (Xin xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp S, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoài B, sinh năm 1984 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp S, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Danh Thị L trình bày:
- Về hôn nhân: Vào năm 2006 bà và ông Nguyễn Hoài B kết hôn, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau vào năm 2017. Thời gian đầu chung sống, cuộc sống gia đình rất đầm ấm, vui vẻ, hạnh phúc. Nhưng về sau, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng, vợ chồng đã ly thân hơn 04 năm qua. Nay bà xét thấy không thể nào hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể kéo dài đời sống vợ chồng nên bà yêu cầu Toà án giải quyết cho bà ly hôn với ông Nguyễn Hoài B.
- Về con chung: Có 02 con chung là Danh Văn T, sinh ngày 06/9/2007 và Danh Thị Ngọc T1, sinh ngày 19/7/2012. Khi ly hôn, bà yêu cầu giải quyết theo nguyện vọng của con, do 02 con chung đều có yêu cầu sống với bà nên bà đồng ý nuôi dưỡng các con, không yêu cầu ông B cấp dưỡng.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà L xác định vợ chồng không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Hoài B, quá trình giải quyết vụ án đã được Toà án tống đạt Thông báo thụ lý, triệu tập hợp lệ nhiều lần tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hoà giải và xét xử nhưng ông B vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản phản hồi ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Danh Thị L khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Hoài B hiện đang cư trú tại xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn là ông Nguyễn Hoài B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do, bà Danh Thị L yêu cầu xét xử vắng mặt do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà L và ông B.
[2] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông B được xác lập vào năm 2009 có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên hôn nhân của bà L và ông B là hợp pháp. Xét về mâu thuẫn dẫn đến ly hôn thì bà L xác định do vợ chồng bất đồng quan điểm phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng, vợ chồng đã ly thân hơn 04 năm qua, bà xét thấy không thể nào hàn gắn tình cảm vợ chồng, không thể kéo dài đời sống vợ chồng nên bà yêu cầu Toà án giải quyết cho bà ly hôn với ông Nguyễn Hoài B. Trong khi đó, ông Nguyễn Hoài B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hoà giải và xét xử nhưng vắng mặt và cũng không có văn bản ý kiến phản hồi, điều đó cho thấy ông B không có thiện chí để hàn gắn với bà L. Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân của bà L và ông B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà L, cho bà L ly hôn với ông B là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống, bà Danh Thị L và ông Nguyễn Hoài B có 02 con chung là Danh Văn T, sinh ngày 06/9/2007 và Danh Thị Ngọc T1, sinh ngày 19/7/2012, khi ly hôn bà L yêu cầu giải quyết theo nguyện vọng của các con, nếu sống với bà thì bà đồng ý nuôi con, không yêu cầu ông B cấp dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy: Tại Biên bản ghi ý kiến con chưa thành niên, cháu Danh Văn T và Danh Thị Ngọc T1 xác định hiện các cháu đang sống với mẹ, nếu cha mẹ ly hôn thì các cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với mẹ. Trong khi đó, ông B cũng không có ý kiến phản hồi với yêu cầu về nuôi con của bà L nên Hội đồng xét xử giao Danh Văn T và Danh Thị Ngọc T1 cho bà Danh Thị L tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi hai cháu thành niên. Ông Nguyễn Hoài B không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Do đương sự không yêu cầu về cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Danh Thị L xác định vợ chồng không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông Nguyễn Hoài B thì vắng mặt và không có ý kiến gì về phần tài sản và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Sau này, nếu có phát sinh tranh chấp, đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu về phần tài sản, nợ chung thành vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
[6] Về án phí: Nguyên đơn bà Danh Thị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Các điều 147, 227, 228, 235 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 53, Điều 56, 58, 69, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Danh Thị L, cho bà Danh Thị L ly hôn với ông Nguyễn Hoài B.
2. Về con chung: Giao Danh Văn T, sinh ngày 06/9/2007 và Danh Thị Ngọc T1, sinh ngày 19/7/2012 cho bà Danh Thị L có nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên.
Ông Nguyễn Hoài B không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của bà L.
3. Về án phí: Bà Danh Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bà L đã dự nộp 300.000 đồng tại biên lai thu số 0005344 ngày 23/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được chuyển thu.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Yến Phương |
Bản án số 400/2024/HNGĐ-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 400/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn do mâu thuẫn gia đình
