Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 400/2024/DS-PT

Ngày 20-9-2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Châu Minh Hoàng

Các thẩm phán:

Bà Bùi Thị Phương Loan

Ông Dương Hùng Quang

- Thư ký phiên tòa:

Bà Nguyễn Ngọc Chọn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:

Bà Từ Thanh Thùy - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 18 và 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 185/2023/TLPT-DS ngày 24 tháng 5 năm 2023 về việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 22/2023/DS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2023/QĐ-PT ngày 17 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Ngô Hồng T, sinh năm 1966. Địa chỉ: Số C, đường L, khóm G, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Long H, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số A, đường N, khóm G, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn: Bà Trần Kim X, sinh năm 1948. Địa chỉ: Ấp X, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Hồ Thị N, sinh năm 1955 (vắng mặt).
  2. Anh Lê Thiện C (có mặt ngày 20/9/2024).
  3. Anh Trần Chí D, sinh năm 1978 (có mặt).
  4. Chị Trần Thùy T1, sinh năm 1971 (có mặt).
  5. Ông Ngô Chí H1 (có mặt ngày 20/9/2024). Cùng địa chỉ: Ấp X, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.
  6. Bà Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1968. Địa chỉ: Số C, đường L, khóm G, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
  7. Ngân hàng Thương mại cổ phần K. Địa chỉ: Số D, đường P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M, chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Dư T2 – Chuyên viên chính xử lý nợ khu vực - Phòng xử lý nợ Ngân hàng TMCP K. Theo quyết định ủy quyền số 2033/QĐ-NHKL ngày 24/7/2024 (có mặt; vắng mặt ngày 20/9/2024).

  1. Ủy ban nhân dân huyện T. Địa chỉ: Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Người kháng cáo: Ông Ngô Hồng T là nguyên đơn, bà Trần Kim X là bị đơn, Ngân hàng thương mại cổ phần K là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người đại diện theo ủy quyền của ông Ngô Hồng T – Ông Nguyễn Long H trình bày:

Trước đây, mẹ của ông Ngô Hồng T là bà Trần Kim S có một phần đất tọa lạc tại ấp X, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau, phần đất có diện tích 14.100 m², thuộc các thửa số 0395, 0398, tờ bản đồ số 05, đất tọa lạc tại ấp X, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau. Đến năm 1997, do bão số 5 nên gia đình ông T có cho hộ bà X ở nhờ phần đất nêu trên. Đối với căn nhà do Nhà nước cho cha ông là ông Ngô Văn Á (ông Á là liệt sĩ), ông thường xuyên lui tới phần đất này. Bà S chết vào năm 2009, do ông T là người con duy nhất của ông Ngô Văn Á và bà Trần Kim S nên ông đã chuyển tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với phần đất này từ tên Trần Kim S sang cho ông (Ngô Hồng T) theo diện thừa kế di sản, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này vợ chồng ông đang thế chấp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần K để vay số tiền 250.000.000 đồng, ông đang thanh toán dần nhưng số tiền vốn và lãi đến nay ông không xác định rõ.

Nay ông T khởi kiện yêu cầu bà xinh có nghĩa vụ trả lại cho ông phần đất có diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 14.100 m², thuộc thửa số 0395, 0398 thuộc tờ bản đồ số 05 và căn nhà có trên đất, nhà và đất cùng tọa lạc tại ấp X, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn bà Trần Kim X trình bày:

Nguồn gốc phần đất hiện đang tranh chấp là của ông ngoại bà X là ông Hồ Minh H2, ông H2 cho lại mẹ ruột bà là bà Hồ Thị V. Bà V cho lại phần đất này cho bà X và chị của là bà Trần Kim S mỗi người 05 công đất, tổng cộng 10 công đất. Do bà S là chị nên bà X để cho bà S được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà X và bà S quản lý, sử dụng đất ổn định từ năm 1995 cho đến năm 2009 thì bà S chết thì bà X tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất này

Năm 1997, khi còn sống, bà S có sang nhượng phần đất cho bà Hồ Hồng N1 phần đất 05 công (tầm 3m), còn lại 05 công đất là của bà X. Vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà S đang thế chấp tại ngân hàng nên bà S không thể làm thủ tục tách quyền sử dụng đất đối với phần đất đã sang nhượng cho bà N1 được. Bà X xác định bà S đã sang nhượng đất cho bà N1 nên không còn đất, phần đất và tài sản còn lại trên đất là của bà X, bà S chưa kịp chuyển tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà thì chết vào năm 2009. Từ trước cho đến nay bà X và bà S sống chung với nhau, khi bà S chết, bà X là người thờ cúng vợ chồng bà S, bà S có một người con là ông Ngô Hồng T nhưng ông T không sống cùng bà, hiện tại ông T đang sống tại thành phố C. Năm 2016, ông T về nhà bà hỏi mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp tại Ngân hàng K (Ngân hàng TMCP K) để vay số tiền 250.000.000 đồng. Năm 2018, Ngân hàng TMCP K khởi kiện ông Ngô Hồng T tại thành phố C yêu cầu thanh toán tiền vay nhưng sau giữa ngân hàng TMCP K và ông T đã thỏa thuận được nên ngân hàng TMCP K rút đơn khởi kiện.

Trên phần đất tranh chấp hiện bà Trần Kim X, ông Trần Chí D, bà Trần Thị Thùy T3 cùng ở trên đất, nhưng hiện tại bà T3 đã cất nhà và ở riêng, không còn ở trên đất này. Nay bà X không thống nhất với yêu cầu của ông Ngô Hồng T đặt ra vì phần đất tranh chấp nêu trên là của bà.

Bà Hồ Hồng N1 trình bày:

Bà N1 có quan hệ chị em cô cậu với bà Trần Kim S và bà Trần Kim X. Năm 1977, bà S có sang nhượng cho bà N1 một phần đất với diện tích 05 công (tầm 3m) với giá trị 300 giạ lúa. Bà đã trả lúa cho bà S và nhận quản lý, sử dụng đất từ thời gian đó cho đến nay. Sau khi sang nhượng đất, bà S giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N1 làm thủ tục chuyển tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khoảng năm 2016, con của bà S là ông T có đến gặp bà X nói rằng lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm thủ tục chuyển tên cho bà, sau đó ông T thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này tại Ngân hàng TMCP K. Khi ông T lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ bà thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn mang tên Trần Kim S. Đối với 05 công đất (tầm 3m) bà N1 sang nhượng nêu trên, bà và ông T tự thỏa thuận chuyển tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại phiên tòa, bà không đặt ra yêu cầu gì đối với ông T và bà X.

Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP K – Ông Nguyễn Anh V1 trình bày:

Vào ngày 01/11/2016, Ngân hàng TMCP K và vợ chồng ông Ngô Hồng T, bà Nguyễn Thị Ú có ký kết hợp đồng tín dụng số 544/16/HĐTD/2000-1861 để vay số tiền 250.000.000 đồng, mục đích vay: nâng cấp, sửa chữa nhà trọ, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất vay kể từ ngày giải ngân lần đầu tiền là 11.7%/năm, được điều chỉnh theo hợp đồng tín dụng nêu trên.

Tài sản thế chấp là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C337058, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 08252 QSDĐ) do Chủ tịch UBND huyện T cấp ngày 18/02/1995 do bà Trần Kim S đứng tên, cập nhật ngày 23/3/2016 do ông Ngô Hồng T đứng tên, theo hợp đồng thế chấp số 544/16/HĐTC-BĐS/2000-1861, ngày 01/11/2016 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K với ông Ngô Hồng T. Tài sản thế chấp nêu trên đã được đăng ký giao dịch đảm bảo tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T vào ngày 01/11/2016. Từ ngày vay cho đến nay ông Ngô Hồng T và bà Nguyễn Thị Ú đã thanh toán cho ngân hàng TMCP K 117.229.763 đồng, trong đó vốn 93.000.000 đồng, lãi 24.229.763 đồng, đến nay hợp đồng đã quá hạn nhưng ông T và bà Ú vẫn chưa thanh toán dứt nợ. Hiện tại, ông T và bà Ú còn nợ ngân hàng số tiền vốn 157.000.000 đồng, lãi trong hạn 79.969.348 đồng, tiền phạt lãi chậm trả 77.246.655 đồng, lãi quá hạn 112.148.825 đồng, tổng cộng 426.364.864 đồng. Tại phiên tòa, Ngân hàng TMCP K yêu cầu ông T và bà Ú thanh toán số tiền 349.118.209 đồng, trường hợp không thanh toán trong thời gian thỏa thuận thì ngân hàng có quyền yêu cầu kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Ngân hàng TMCP K rút yêu cầu đối với ông T và bà Ú về việc thanh toán tiền phạt lãi chậm trả 77.246.655 đồng.

Anh Lê Thiện C trình bày: Thống nhất với trình bày và ý kiến của mẹ là bà Trần Kim X, ông không có ý kiến khác.

Anh Trần Chí D trình bày: Thống nhất với trình bày và ý kiến của mẹ là bà Trần Kim X, ông không có ý kiến khác.

Chị Trần Thùy T3 trình bày: Thống nhất với trình bày và ý kiến của mẹ là bà Trần Kim X, ông không có ý kiến khác.

Từ nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số: 22/2023/DS-ST ngày 21/3/2023 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Hồng T đối với bà Trần Kim X về việc yêu cầu trả lại đất đang tranh chấp tọa lạc tại ấp X, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Buộc bà Trần Kim X cùng những người có liên quan có nghĩa vụ trả lại cho ông Ngô Hồng T phần đất có diện tích 13.000 m² thuộc thửa số 0398, tờ bản đồ số 05 và một phần đất có diện tích 524,124 m² thuộc thửa số 0395, tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại ấp X, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C337058, số vào số 08252, do Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 18/01/1995.

Bà Trần Kim X, anh Trần Chí D cùng những người liên quan đang ở trên đất tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất thổ cư, lập vườn có diện tích 575,875 m² thuộc thửa số 0395, tờ bản đồ số 05 tọa lạc tại ấp X, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C337058, số vào sổ 08252, do Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 18/01/1995. Theo hướng: Mặt tiền giáp lộ Kinh Thị P từ mốc vách nhà sang hết phần sân xi măng của bà X dài 13,55m; Mặt hậu giáp phần đất không tranh chấp, hiện do bà X quản lý, sử dụng dài 13,55m; Cạnh phải nhìn từ mặt tiền giáp phần đất còn lại ông T được quản lý, sử dụng dài 42,5m, cạnh trái nhìn từ mặt tiền hướng giáp đất bà Hồ Hồng N1 dài 42,5m.

Buộc bà Trần Kim X và anh Trần Chí D và những người liên quan đang ở trên đất có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông Ngô Hồng T số tiền tương ứng với giá trị đất được nhận là 406.500.000 đồng (bốn trăm lẻ sáu triệu năm trăm nghìn đồng).

Các đương sự có nghĩa vụ liên hệ với Cơ quan chuyên môn thực hiện thủ tục chuyển tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP K đối với ông Ngô Hồng T, bà Nguyễn Thị Ú về việc yêu cầu ông T và bà Ú thanh toán nợ vay 349.118.209 đồng. Đình chỉ yêu cầu của Ngân hàng TMCP K đối với ông Ngô Hồng T, bà Nguyễn Thị Ú về việc yêu cầu thanh toán yêu cầu tiền phạt lãi chậm trả 77.246.655 đồng.

Buộc ông Ngô Hồng T, bà Nguyễn Thị Ú có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP K số tiền vốn 157.000.000 đồng, lãi trong hạn 79.969.348 đồng, lãi quá hạn 112.148.825 đồng, tổng cộng 349.118.209 đồng (ba trăm bốn mươi chín triệu một trăm mười tám nghìn hai trăm lẻ chín đồng).

Hủy một phần hợp đồng thế chấp số 544/16/HĐTC-BĐS/2000-1861, ngày 01/11/2016 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K với ông Ngô Hồng T đối với phần đất bà X được quản lý, sử dụng có diện tích 575,875 m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C337058, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 08252) do Chủ tịch UBND huyện T cấp ngày 18/02/1995. Duy trì hợp đồng thế chấp nêu trên đối với phần đất còn lại của ông Ngô Hồng T. Trường hợp, Ngân hàng TMCP K có đơn yêu cầu mà ông T, bà Ú không thanh toán nợ thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu kê biên, phát mãi tài sản để thu hồi nợ theo hợp đồng hai bên đã ký kết.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên chi phí tố tụng, về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 05/4/2023 bị đơn là bà Trần Kim X kháng cáo với nội dung không đồng ý bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét và sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 05/4/2023 nguyên đơn ông Ngô Hồng T kháng cáo một phần bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 05/4/2023 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng thương mại cổ phần K kháng cáo yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng và công nhận toàn bộ Hợp đồng thế chấp kí kết giữa Ngân hàng và ông T, bà Ú.

Tại phiên toà phúc thẩm: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Long H, bị đơn bà Trần Kim X và người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP K vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TMCP K, chấp nhận một phần kháng cáo của ông Ngô Hồng T và chấp nhận một phần kháng cáo của bà Trần Kim X. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 22/2023/DS-ST ngày 21/3/2023 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình theo hướng:

Chấp nhận một phần yêu cầu của ông T, buộc bà X và những người sống chung với bà X giao cho ông T phần đất diện tích 800,6m² (trong phần đất đo đạc thực tế 1.640,6m² thuộc thửa 0395, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp X, xã H, huyện T; Bà X và những người đang sinh sống trong căn nhà trả lại cho ông T phần chênh lệch bằng giá trị (theo định giá). Bác yêu cầu của ông T đối với yêu cầu buộc bà X trả lại 05 công đất ruộng diện tích theo đo đạc thực tế là 6.682,5m², đối với phần 5 công đất ruộng còn lại không đặt ra xem xét. Bác một phần yêu cầu của ông T đối với phần đất 820,3m². Hủy một phần hợp đồng thế chấp đối với phần thế chấp tương đương diện tích tương đương với diện tích 6.682,5m² đất ruộng, 820,3m² đất vườn và đất ở, duy trì một phần hợp đồng thế chấp tương đương với phần diện tích đất được chấp nhận của ông T. Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo được giữ nguyên như án sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Nguyên đơn ông T kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với lý do: Ông T cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm giao phần đất diện tích 575,875m² trên đất có căn nhà thuộc thửa 0395, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp X, xã H, huyện T cho gia đình bà X là không phù hợp và bà X phải trả cho ông giá trị với số tiền 406.500.000 đồng là chưa thỏa đáng.

Bị đơn bà X kháng cáo với nội dung không đồng ý bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm và sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông nguyên đơn là ông T với lý do: Phần đất này là của bà X là do mẹ ruột bà là bà Hồ Thị V cho bà X và chị của là bà Trần Kim S mỗi người 05 công đất, tổng cộng 10 công đất. Do bà S là chị nên bà X để cho bà S được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà X và bà S cùng quản lý, sử dụng đất ổn định từ năm 1995 cho đến năm 2009 thì bà S chết, bà X tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất này. Khi còn sống, bà S có sang nhượng phần đất cho bà Hồ Hồng N1 phần đất 05 công (tầm 3m), còn lại 05 công đất là của bà X. Vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà S đang thế chấp tại ngân hàng nên bà S không thể làm thủ tục tách quyền sử dụng đất đối với phần đất đã sang nhượng cho bà N1 được. Bà X xác định bà S đã sang nhượng đất cho bà N1 nên không còn đất, phần đất và tài sản còn lại trên đất là của bà X.

Ngân hàng thương mại cổ phần K kháng cáo yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng và công nhận toàn bộ Hợp đồng thế chấp kí kết giữa ngân hàng và ông T, bà Ú với lý do: Hợp đồng thế chấp giao kết giữa các bên là đúng qui định pháp luật, khi kí kết hợp đồng phía Ngân hàng đã có đến phần đất xem xét thẩm định trực tiếp phần nhà và đất theo qui định.

[2] Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Nguồn gốc phần đất tranh chấp, các đương sự đều thừa nhận do ông bà cho lại nhưng phía ông T xác định cho riêng bà S, bà X xác định đất cho chung bà và bà S.

Xét giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 18/01/1995 do bà Trần Kim S đứng tên, thời điểm này bà S và bà X cùng sống chung với nhau, theo bà X trình bày căn nhà bà đang ở có thờ cúng liệt sĩ, Nhà nước hỗ trợ 19.000.000 đồng, phần còn lại gia đình bà X tự góp vào xây dựng. Ông T là con ruột của ông Ngô Văn Á và bà Trần Kim S, vì bà S đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên khi ông Á và bà S chết thì ông T sẽ là người thừa kế tài sản của bà S.

Tuy nhiên, trên phần đất ông T được hưởng, bà X đã cất nhà cửa, trồng cây cối, sinh sống ổn định từ năm 1995 cho đến nay. ông T sinh sống tại thành phố C. Quá trình chuyển tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T theo thừa kế, không kiểm tra hiện trạng thực tế nên không xem xét thực tế, không đo đạc lại làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà X.

[3] Xét kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng thương mại cổ phần K thấy rằng:

Xem xét các tài liệu do Ngân hàng cung cấp về thủ tục thế chấp tài sản ngày 01/11/2016 thể hiện: Theo Hợp đồng thế chấp số 544 ngày 01/11/2016 chỉ thể hiện thế chấp quyền sử dụng đất không thể hiện có tài sản gắn liền trên đất. Ngân hàng có cung cấp bản báo cáo tư vấn bất động sản để chứng minh có thẩm định phần nhà trên đất. Tuy nhiên xem xét biên bản định giá tài sản thế chấp có ông T ký tên và hợp đồng thế chấp hoàn toàn không thể hiện có căn nhà hay công trình kiến trúc trên đất.

Ngoài ra phía Ngân hàng cũng không cung cấp được biên bản xem xét thẩm định tài sản trên đất có chữ ký hay bút tích nào của bà X và những người liên quan đang ở trên phần đất. Như vậy cho thấy khi nhận thế chấp Ngân hàng chưa tiến hành xem xét thẩm định tài sản trong khi đó căn nhà bà X và bà S xây dựng ở ổn định từ năm 1997 đến nay, xét đây là lỗi của Ngân hàng không thực hiện đúng theo quy định khi nhận thế chấp do đó cần hủy một phần hợp đồng thế chấp đối với phần diện tích đất bà X được tiếp tục sử dụng là phù hợp. Tuy nhiên cần xem xét chấp nhận một phần hợp đồng thế chấp đối với phần diện tích đất mà ông T được chấp nhận buộc bà X giao lại là phù hợp.

[4] Xét kháng cáo của bị đơn bà Trần Kim X thấy rằng:

Phần đất vườn và thổ cư diện tích theo đo đạc thực tế 1.640,6m² và có công trình nhà cửa và kiến trúc khác trên đất xét thấy: Về phần đất này theo như trình bày của bà X là của chung bà và bà S và bà đã sinh sống ổn định cùng với bà S trên phần đất này từ khi được bà V cho đến nay, đối với căn nhà ông T cho rằng đây là nhà tình nghĩa Nhà nước cấp cho bà S nên yêu cầu gia đình bà X trả lại cho ông.

Tuy nhiên theo xác nhận của những người hiểu biết sự việc thì Nhà nước chỉ cấp số tiền 19.000.000 đồng nhưng căn nhà xây dựng giá trị là 150.000.000 đồng, như vậy trình bày của bà X là gia đình bà đã bỏ tiền ra cùng với số tiền bà S được cấp để xây dựng căn nhà là có cơ sở.

Mặc dù bà S đứng tên quyền sử dụng đất nhưng từ trước đến nay gia đình bà X cùng với bà S sinh sống, canh tác ổn định không có tranh chấp gì và khi bà S chết phía gia đình bà X cũng tiếp tục ở trên phần đất đó. Hiện nay bà X và gia đình không còn chỗ ở nào khác. Mặc khác trong khoản thời gian bà S còn sống thì có vay nợ ngân hàng và của hội phụ nữ thì bà X chính là người trực tiếp trả khoản nợ này (Có xác nhận của Hội LH phụ nữ - BL 246) và khi bà S bệnh đến khi chết phía ông T cũng không trực tiếp chăm sóc, đồng thời cũng không có đóng góp gì khi xây dựng căn nhà nên xét về thực tế sử dụng và công sức tạo lập ngôi nhà chủ yếu là của bà X nên cần giao toàn bộ căn nhà này cho phía bà X là phù hợp.

[5] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Ngô Hồng T thấy rằng:

Ông T xác định bà X chỉ ở nhờ trên đất của bà S nhưng ông không chứng minh được việc ở nhờ của bà X, còn bà X thì xác định phần đất là cho chung 2 chị em bà và bà S nhưng lại không đồng ý trả lại phần đất nào theo yêu cầu khởi kiện của ông T cũng không phù hợp.

Trên thực tế bà X đã quản lý, sử dụng phần đất ổn định một thời gian dài từ năm 1995 nhưng bà S, ông T không có yêu cầu gì để đòi lại đất. Năm 2009 bà S chết thì bà X vẫn tiếp tục quản lý sử dụng phần đất này cho đến nay. Vào năm 2016 ông T chuyển tên quyền sử dụng đất thì mới phát sinh tranh chấp với bà S và sau đó ông T mới có yêu cầu đòi lại đất.

Xét về nguồn gốc đất thì phần đất đây là đất của bà V mẹ ruột của bà S và bà X có diện tích theo giấy chứng nhận là 14.100m² (gồm đất ruộng, đất vườn và đất thổ cư) theo trình bày của bà X thì phần đất trên là cho chung hai bà nhưng vì là chị em ruột sống chung với nhau nên để cho bà S đứng tên quyền sử dụng. Xét thấy trình bày của bà X là có cơ sở bởi lẽ:

[5.1] Đối với phần 10 công đất ruộng theo đo đạc thực tế gồm hai thửa 411 diện tích 6410,8 m2 bà X đang quản lý và thửa số 419 diên tích 6.954,2 m2 khi còn sống bà S đã chuyển nhượng cho bà N1 và bà N1 đã quản lý sử dụng từ khi nhận chuyển nhượng đến nay. Như vậy diễn biến quá trình sử dụng đất thực tế đúng như bà X trình bày là phần bà S được cho ½ tổng diện tích đất thì bà S đã chuyển nhượng mà không chuyển nhượng hết toàn bộ diện tích đất. Hơn nữa trong suốt quá trình gia đình bà X quản lý và sử dụng phía bà S cũng như ông T đều không có ý kiến gì, còn việc bà X chưa chuyển tên quyền sử dụng là vì vào năm 1997 khi chuyển nhượng đất cho bà N1, bà S giao luôn giấy chứng nhận quyền sử dụng cho bà N1 tách quyền sử dụng và bà N1 chưa thực hiện thì đến năm 2016 ông T về gặp bà N1 mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng nói là để tách quyền sử dụng cho bà N1 nhưng sau đó làm thủ tục chuyển sang tên cho ông T và thế chấp Ngân hàng nên bà X không chuyển tên được. Trình bày này của phía bà X là phù hợp với diễn biến thực tế được các bên đương sự thừa nhận và phù hợp với lời trình bày của bà N1 tại cấp sơ thẩm là:

“Bà S có sang nhượng cho bà N1 một phần đất với siện tích 05 công (tầm 3m) với giá trị 300 giạ lúa. Bà đã trả lúa cho bà S và nhận quản lý, sử dụng đất từ thời gian đó cho đến nay. Sau khi sang nhượng đất, bà S giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N1 làm thủ tục chuyển tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khoảng năm 2016, con của bà S là ông T có đến gặp bà X nói rằng lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm thủ tục chuyển tên cho bà, sau đó ông T thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này tại Ngân hàng TMCP K. Khi ông T lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ bà thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn mang tên Trần Kim S. Đối với 05 công đất (tầm 3m) bà N1 sang nhượng nêu trên, bà và ông T tự thỏa thuận chuyển tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Tại phiên tòa phía bà không đặt ra yêu cầu gì đối với ông T và bà X.

Như vậy theo trình bày của bà N1 hiện nay phần đất ruộng ông T có tranh chấp và khởi kiện buộc bà X trả lại có một phần là do bà N1 đã quản lý sử dụng 5 công từ khi nhận chuyển nhượng đến nay (Theo đo đạc thực tế tại thửa số 419 diện tích 6.954,2 m2). Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà X trả cho ông T toàn bộ 10 công đất ruộng là không đúng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của phía bà X.

Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của ông T xác định thay đổi yêu cầu khởi kiện không yêu cầu bà X trả lại phần đất diện tích 6.954,2 m2 tại thửa số 419 do đã chuyển nhượng cho bà N1 và bà N1 là người đang trực tiếp quản lý sử dụng. Ông T, bà X, bà N1 đều thống nhất không tranh chấp đối với phần diện tích đất bà S đã chuyển nhượng cho bà N1 nên Hội đồng xét xử không xem xét đến phần đất bà N1 đang quản lý từ giao dịch chuyển nhượng này, trường hợp các đương sự không tự thỏa thuận được thì bà N1 và ông T có quyền khởi kiện thành vụ án khác.

[5.2] Đối với phần khởi kiện của ông T về diện tích đất ruộng còn lại là 6.410,8 m2 tại thửa số 411 do bà X đang quản lý, sử dụng thấy rằng:

Do có căn cứ xác định phần đất ruộng này là được cho chung hai chị em bà S và bà X mỗi người là 5 công, thực tế khi còn sống bà S đã chuyển nhượng cho bà N1 phần 5 công ruộng bà S được cho và đến hiện tại giữa bà N1, ông T và bà X không tranh chấp gì đối với phần đất ruộng bà N1 nhận chuyển nhượng, phần đất ruộng còn lại 6.410,8 m2 tại thửa số 411 phía bà X đang quản lý sử dụng là của bà X nên ông T khởi kiện yêu cầu bà X trả lại là không có căn cứ chấp nhận.

[6] Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào việc bà X chưa chuyển tên quyền sử dụng đất để xác định toàn bộ diện tích đất tranh chấp là đất của bà S là chưa xem xét, đánh giá toàn diện khách quan chứng cứ cũng như thực tế quá trình sử dụng đất của bà X, từ đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T là chưa đủ cơ sở và không phù hợp thực tế diễn biến quá trình sử dụng đất cũng như các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được.

Đối với phần đất vườn và đất ở có cơ sở xác định bà V cho chung bà S và bà X nên cần chia đôi phần đất này cho hai bà là có căn cứ và phù hợp. Tuy nhiên do chấp nhận giao toàn bộ nhà và công trình kiến trúc khác trên đất là của bà X nên bà X được nhận nhà và công trình kiến trúc gắn liền với phần đất, đồng thời để đảm bảo thuận lợi cho quá trình thi hành án không cần thiết phải phá bỏ hay đập phá dỡ nhà. Theo bản vẽ hiện trạng bổ sung thì có một phần nhà kết cấu bê tông là nằm trên đất ông T được chấp nhận, nên cần thiết tính ra giá trị để buộc bà X hoàn lại cho ông T là phù hợp. Như vậy theo đo vẽ hiện trạng bổ sung thì ông T được chấp nhận yêu cầu khởi kiện với diện tích là 800,6m² và bà X được tiếp tục quản lý sử dụng phần nhà và công trình kiến trúc khác gắn liền với phần diện tích đất là 840m², nhiều hơn ông T diện tích 34m² nên buộc bà X hoàn lại giá trị phần chênh lệch này là 578.000 đ/m2 x 34m² = 19.652.000 đồng.

[5] Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà X, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T và Ngân hàng TMCP K. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 22/2023/DS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2023 của Toà án nhân dân Thới Bình.

[6] Chi phí đo đạc, thẩm định và định giá tài sản: Tại cấp sơ thẩm và phúc thẩm nguyên đơn đã dự nộp và đã thanh lý hợp đồng sau khi tiến hành đo đạc và thẩm định, định giá tổng số tiền là: 34.124.000 đồng. Do chấp nhận kháng cáo bà X và chấp nhận một phần khởi kiện của ông T nên bà X và ông T mỗi người phải chịu ½ chi phí này, ông T đã dự nộp toàn bộ nên bà X có nghĩa vụ hoàn lại cho ông T ½ số tiền này là 17.062.000 đồng.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự phúc thẩm: Ông T, bà X được được xét miễn nộp. Bà Ú phải chịu theo quy định.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Ngô Hồng T và Ngân hàng thương mại cổ phần K.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Trần Kim X.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 22/2023/DS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Hồng T đối với bà Trần Kim X về việc yêu cầu trả lại một phần diện tích đất đang tranh chấp tọa lạc tại ấp X, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Buộc bà Trần Kim X cùng những người có liên quan có nghĩa vụ trả lại cho ông Ngô Hồng T một phần đất thổ cư và đất vườn có tổng diện tích 800,6 m² thuộc thửa số 0395, tờ bản đồ số 05 có vị trí tứ cận: Cạnh M (giáp Nguyễn Chí H3), M4-M8 (mặt tiền giáp đường nhựa), M8-M7-M6-M5 (cạnh giáp phần đất giao cho bà X); cạnh M5-M1 (mặt hậu giáp phần đất bà X) theo bản vẽ hiện trạng bổ sung của Công ty D1.

  1. Không chấp nhận yêu cầu của ông Ngô Hồng T yêu cầu bà X trả lại phần đất có diện tích 13.000 m² thuộc thửa số 0398, tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại ấp X, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C337058, số vào sổ 08252, do Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 18/01/1995. Theo đo đạc thực tế đất ruộng tại thửa số 411 diện tích 6.410,8 m2 cùng với đất ở và cây lâu năm có diện tích 840 m² và toàn bộ nhà cửa công trình kiến trúc gắn liền với đất.
  2. Bà Trần Kim X, anh Trần Chí D cùng những người liên quan đang ở trên phần đất được tiếp tục quản lý, sử dụng phần nhà và công trình kiến trúc gắn liền phần đất thổ cư, lập vườn có diện tích 840 m² thuộc thửa số 0395, tờ bản đồ số 05 tọa lạc tại ấp X, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C337058, số vào sổ 08252, do Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 18/01/1995 có vị trí theo sơ đồ đo vẽ bổ sung của Công ty D1: Mặt tiền cạnh giáp lộ.

Buộc bà Trần Kim X và anh Trần Chí D và những người liên quan đang ở trên đất có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông Ngô Hồng T số tiền tương ứng với giá trị đất ở được nhận nhiều hơn là 19.652.000 đồng.

Các đương sự có quyền liên hệ đến Cơ quan chuyên môn thực hiện thủ tục chuyển tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

  1. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP K đối với ông Ngô Hồng T, bà Nguyễn Thị Ú về việc yêu cầu ông T và bà Ú thanh toán nợ vay 349.118.209 đồng. Đình chỉ yêu cầu của Ngân hàng TMCP K đối với ông Ngô Hồng T, bà Nguyễn Thị Ú về việc yêu cầu thanh toán yêu cầu tiền phạt lãi chậm trả 77.246.655 đồng.

Buộc ông Ngô Hồng T, bà Nguyễn Thị Ú có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP K số tiền vốn 157.000.000 đồng, lãi trong hạn 79.969.348 đồng, lãi quá hạn 112.148.825 đồng, tổng cộng 349.118.209 đồng (Ba trăm bốn mươi chín triệu một trăm mười tám nghìn hai trăm lẻ chín đồng).

  1. Hủy một phần hợp đồng thế chấp số 544/16/HĐTC-BĐS/2000-1861, ngày 01/11/2016 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K với ông Ngô Hồng T đối với phần đất bà X được tiếp tục quản lý, sử dụng có diện tích 6.410,8 m2 thửa số 411đất nuôi trồng thủy sản cùng vớ 840 m2 đất ở và cây lâu năm cùng toàn bộ nhà cửa và công trình kiến trúc gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C337058, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 08252) do Chủ tịch UBND huyện T cấp ngày 18/02/1995. Duy trì hợp đồng thế chấp nêu trên đối với phần đất còn lại của ông Ngô Hồng T. Trường hợp, Ngân hàng TMCP K có đơn yêu cầu mà ông T, bà Ú không thanh toán nợ thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu kê biên, phát mãi tài sản phần đất còn lại đứng tên ông T để thu hồi nợ theo hợp đồng hai bên đã ký kết.
  2. Về chi phí đo đạc, thẩm định và định giá tài sản: Bà Trần Kim X có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Ngô Hồng T số tiền chi phí 17.062.000 đồng (Mười chín triệu sáu trăm năm mươi hai nghìn đồng).

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của ông Ngô Hồng T đối với bà Trần Kim X, của Ngân hàng TMCP K đối với ông Ngô Hồng T, bà Nguyễn Thị Ú cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bà X còn phải chịu lãi suất của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự; Vợ chồng ông T, bà Ú phải chịu lãi suất của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi quy định tại Hợp đồng tín dụng số 544/16/HĐTD/2000-1861 đã ký kết giữa Ngân hàng TMCP K với ông Ngô Hồng T, bà Nguyễn Thị Út .

  1. Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm:

+ Ông Ngô Hồng T; bà Trần Kim X được miễn tiền dự nộp án phí sơ thẩm theo quy định.

+ Bà Nguyễn Thị Ú phải nộp án phí là 8.728.000 đồng (tám triệu bảy trăm hai mươi tám nghìn đồng, lấy tròn số).

+ Ngân hàng TMCP K không phải chịu án phí. Ngày 01/3/2023 Ngân hàng TMCP K có dự nộp 10.474.000 đồng (mười triệu bốn trăm bảy mươi bốn nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003419 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau được nhận lại.

- Án phí dân sự phúc thẩm:

+ Ông Ngô Hồng T, bà Trần Kim X được xét miễn án phí theo quy định của pháp luật.

+ Ngân hàng TMCP K phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000 đồng, Ngày 04/5/2024 Ngân hàng đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003571 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được chuyển thu đối trừ.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Thới Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Thới Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Châu Minh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 400/2024/DS-PT ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 400/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger