Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 400/2024/HS-ST

Ngày: 16 - 8 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Gái.
  2. Bà Nguyễn Hương Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Lữ Ngọc Mai – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 360/2024/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 416/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Quốc C, sinh năm: 1983, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: Số A K, Khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 1 K, Tổ A, Khu phố B, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Kinh doanh tự do; con ông Nguyễn Văn H (©) và bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1959; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; vợ: Đinh Thị Duy P, sinh năm 1980 và có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/12/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Cao M, sinh năm 1989.

Địa chỉ: 1 Đường số H, Khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (xin vắng mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc C: Ông Nguyễn Trung T – Luật sư của Chi nhánh Công ty L1 và Cộng sự thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Quốc C và anh Cao M có quen biết nhau từ trước. Do cần vốn để kinh doanh nên anh Cao M đã nhiều lần vay tiền của Nguyễn Quốc C dưới nhiều hình thức vay khác nhau với lãi suất cao. Các hình thức C cho anh M vay gồm vay trả lãi góp (có nghĩa là người vay phải trả nợ theo kỳ, mỗi kỳ trả nợ số tiền bằng nhau, bao gồm cả tiền gốc và tiền lãi cho đến khi hết số kỳ theo thỏa thuận, mỗi kỳ được tính là 01 ngày); vay trả lãi đứng (có nghĩa là người vay chỉ trả tiền lãi hằng ngày hoặc theo định kỳ, tiền gốc giữ nguyên đến khi nào trả được tiền gốc thì tất toán khoản vay) và vay tiền có thế chấp tài sản đảm bảo.

Thời gian đầu C cho anh M vay số tiền ít, trong thời gian ngắn nên anh M đã tất toán xong, không xác định được chính xác số tiền vay và lãi suất. Do quen biết và trước đó đã vay tiền nhiều lần nên C không yêu cầu anh M ký giấy vay tiền, khi cần tiền thì anh M chỉ cần nhắn tin zalo cho C rồi C chuyển khoản cho anh M. Mỗi lần giải ngân hoặc chuyển trả lãi, trả góp thì hai bên đều nhắn tin thông báo qua zalo. C sử dụng tài khoản số 6666612568 và số 8888812568 của C mở tại ngân hàng A để chuyển tiền cho vay và nhận tiền trả nợ, thỉnh thoảng thì C có yêu cầu anh M chuyển tiền trả nợ vào các tài khoản khác nhưng không nhiều. Anh M nhận tiền C cho vay và chuyển trả nợ cho C bằng tài khoản số 29158697 của anh M và tài khoản 17135747 của chị Nguyễn Thị Bích T1 (vợ anh M) mở tại Ngân hàng A. Ngoài ra anh M còn sử dụng tài khoản 689222234568 của anh M mở tại Ngân hàng P1 để trả nợ cho C nhưng không nhiều.

Từ tháng 6/2023 đến nay, Nguyễn Quốc C đã cho anh M vay tổng cộng 6 dây trả góp với lãi suất 0,67%/ngày; 5 dây vay lãi đứng với lãi suất 1%/ngày và vay thế chấp với lãi suất 10%/tháng để hưởng lợi. Cụ thể như sau:

Nguyễn Quốc C cho anh M vay trả góp 06 lần gồm:

- Dây vay trả góp thứ nhất: Ngày 10/6/2023, C cho anh M vay số tiền 250.000.000 đồng, trả góp trong vòng 30 ngày, mỗi ngày góp 10.000.000 đồng. Từ ngày 10/6/2023 đến ngày 29/6/2023, anh M đã trả góp được 20 ngày với số tiền là 200.000.000 đồng, còn thiếu 10 ngày. Ngày 03/7/2023, anh M vay tiếp của C số tiền 300.000.000 đồng và đã trả 10 ngày còn lại của dây vay trả góp thứ nhất cho C. Như vậy, số tiền C cho vay là 250.000.000 đồng, số tiền anh M đã trả cho C là 300.000.000 đồng, trong đó tiền lãi là 50.000.000 đồng, tương đương với mức lãi suất 0,67%/ngày, gấp 12 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền C đã thu lợi hợp pháp là 4.166.667 đồng, thu lợi bất chính là 45.833.333 đồng.

- Dây vay trả góp thứ hai: Ngày 03/7/2023, C cho anh M vay số tiền 300.000.000 đồng, trả góp trong vòng 30 ngày, mỗi ngày trả góp 12.000.000 đồng, C trừ 10 ngày của dây góp thứ nhất anh M còn thiếu là 100.000.000 đồng và thực chuyển cho anh M số tiền 200.000.000 đồng. Từ ngày 03/7/2023 đến ngày 26/7/2023, anh M trả góp cho C được 24 ngày với số tiền 288.000.000 đồng, còn thiếu 6 ngày. Ngày 26/7/2023, anh M vay tiếp của C số tiền 300.000.000 đồng và đã trả góp 6 ngày còn lại của dây vay trả góp thứ hai cho C. Như vậy, số tiền C cho vay là 300.000.000 đồng, số tiền anh M đã trả cho C là 360.000.000 đồng, trong đó tiền lãi là 60.000.000 đồng, tương đương với mức lãi suất 0,67%/ngày, gấp 12 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền C đã thu lợi hợp pháp là 5.000.000 đồng, thu lợi bất chính là 55.000.000 đồng.

- Dây vay trả góp thứ ba: Ngày 26/7/2023, C cho anh M vay số tiền 300.000.000 đồng, trả góp trong vòng 30 ngày, mỗi ngày trả góp 12.000.000 đồng, C trừ 6 ngày của dây góp thứ hai anh M còn thiếu là 72.000.000 đồng và thực chuyển cho anh M số tiền 228.000.000 đồng. Từ ngày 27/7/2023 đến ngày 17/8/2023, anh M đã trả góp cho C được 22 ngày với số tiền là 264.000.000 đồng, còn thiếu 8 ngày. Ngày 18/8/2023, anh M vay tiếp của C số tiền 300.000.000 đồng và trả góp 8 ngày còn lại của dây trả góp thứ ba cho C. Như vậy, số tiền C cho vay là 300.000.000 đồng, số tiền anh M đã trả cho C là 360.000.000 đồng, trong đó tiền lãi là 60.000.000 đồng, tương đương với mức lãi suất 0,67%/ngày, gấp 12 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền C đã thu lợi hợp pháp là 5.000.000 đồng, thu lợi bất chính là 55.000.000 đồng.

- Dây vay trả góp thứ tư: Ngày 18/8/2023, C cho anh M vay số tiền 300.000.000 đồng, trả góp trong vòng 30 ngày, mỗi ngày trả góp 12.000.000 đồng, C trừ 8 ngày của dây góp thứ ba anh M còn thiếu là 96.000.000 đồng và trừ 36.000.000 đồng tiền lãi đứng của khoản vay khác anh M còn thiếu, thực chuyển cho anh M số tiền 168.000.000 đồng. Từ ngày 19/8/2023 đến ngày 14/9/2023, anh M đã trả góp cho C được 27 ngày với số tiền là 324.000.000 đồng, còn thiếu 3 ngày. Ngày 14/9/2023, anh M vay tiếp của C số tiền 300.000.000 đồng và trả góp 3 ngày còn lại của dây góp thứ tư cho C. Như vậy, số tiền C cho vay là 300.000.000 đồng, số tiền anh M đã trả cho C là 360.000.000 đồng, trong đó tiền lãi là 60.000.000 đồng, tương đương với mức lãi suất 0,67%/ngày, gấp 12 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền C đã thu lợi hợp pháp là 5.000.000 đồng, thu lợi bất chính là 55.000.000 đồng.

- Dây vay trả góp thứ năm: Ngày 14/9/2023, C cho anh M vay số tiền 300.000.000 đồng, trả góp trong vòng 30 ngày, mỗi ngày trả góp 12.000.000 đồng, C trừ 3 ngày của dây góp thứ tư anh M còn thiếu là 36.000.000 đồng, thực chuyển cho anh M số tiền 264.000.000 đồng. Từ ngày 15/9/2023 đến ngày 11/10/2023, anh M đã trả góp cho C được 26 ngày với số tiền là 312.000.000 đồng, còn thiếu 4 ngày. Ngày 13/10/2023, anh M vay tiếp của C số tiền 300.000.000 đồng và trả góp 4 ngày còn lại của dây góp thứ năm cho C. Như vậy, số tiền C cho vay là 300.000.000 đồng, số tiền anh M đã trả cho C là 360.000.000 đồng, trong đó tiền lãi là 60.000.000 đồng, tương đương với mức lãi suất 0,67%/ngày, gấp 12 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền C đã thu lợi hợp pháp là 5.000.000 đồng, thu lợi bất chính là 55.000.000 đồng.

- Dây vây trả góp thứ sáu: Ngày 13/10/2023, C cho anh M vay số tiền 300.000.000 đồng, trả góp trong vòng 30 ngày, mỗi ngày trả góp 12.000.000 đồng, C trừ 4 ngày của dây góp thứ năm anh M còn thiếu là 48.000.000 đồng, và trừ 70.000.000 đồng tiền lãi đứng của khoản vay khác anh M còn thiếu, thực chuyển cho anh M số tiền 182.000.000 đồng. Từ ngày 14/10/2023 đến ngày 19/10/2023, anh M đã trả góp cho C được 3 ngày với số tiền 36.000.000 đồng thì mất khả năng chi trả. Như vậy, số tiền C cho vay là 300.000.000 đồng, số tiền anh M đã trả cho C là 36.000.000 đồng/3 ngày, trong đó tiền lãi là 6.000.000 đồng/3 ngày, tương đương với mức lãi suất 0,67%/ngày, gấp 12 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền C đã thu lợi hợp pháp là 500.000 đồng, thu lợi bất chính là 5.500.000 đồng.

Nguyễn Quốc C cho anh M vay trả lãi đứng 06 lần gồm:

- Dây vay lãi đứng lần thứ nhất: Ngày 04/6/2023, C cho anh M vay số tiền 50.000.000 đồng với lãi suất 1%/ngày, tương đương 500.000 đồng/ngày. C chuyển số tiền 50.000.000 đồng từ tài khoản số 8888812568 của C mở tại ngân hàng A vào tài khoản 060057555923 của anh M mở tại Ngân hàng S. Từ ngày 04/6/2023 đến ngày 22/6/2023 anh M trả lãi cho C được 19 ngày với số tiền là 9.500.000 đồng và trả toàn bộ số tiền gốc cho C. Như vậy, số tiền C cho vay là 50.000.000 đồng, số tiền anh M đã trả cho C là 59.500.000 đồng, trong đó tiền lãi là 9.500.000 đồng, tương đương với mức lãi suất 1%/ngày, gấp 17,8 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền C đã thu lợi hợp pháp là 532.000 đồng, thu lợi bất chính là 8.968.000 đồng.

- Dây vay lãi đứng lần thứ hai: Ngày 24/6/2023, C cho anh M vay số tiền 150.000.000 đồng với lãi suất 1%/ngày, tương đương 1.500.000 đồng/ngày, C trừ trước 10 ngày lãi là 15.000.000 đồng, thực chuyển cho anh M là 135.000.000 đồng. Đến ngày 29/6/2023, anh M trả cho C toàn bộ tiền gốc là 150.000.000 đồng (trong đó trừ tiền lãi của 04 ngày còn dư là 6.000.000 đồng). Như vậy, số tiền C cho vay là 150.000.000 đồng, số tiền anh M đã trả cho C là 159.000.000 đồng, trong đó tiền lãi là 9.000.000 đồng/06 ngày, tương đương với mức lãi suất 1%/ngày, gấp 17,8 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền C đã thu lợi hợp pháp là 3.336.000 đồng, thu lợi bất chính là 5.664.000 đồng.

- Dây vay lãi đứng lần thứ ba: Ngày 07/9/2023, C cho anh M vay số tiền 300.000.000 đồng, lãi suất 1%/ngày, tương đương 3.000.000 đồng/ngày. C chuyển số tiền 300.000.000 đồng từ tài khoản số [...] của C mở tại ngân hàng A vào tài khoản 17135747 của chị Nguyễn Thị Bích T1 (vợ anh M) mở tại Ngân hàng A. Cùng ngày 07/9/2023, Anh M1 chuyển trả trước cho C tiền lãi 10 ngày là 30.000.000 đồng, sau đó mất khả năng chi trả. Như vậy, số tiền C cho vay là 300.000.000 đồng, số tiền anh M1 đã trả cho C là 30.000.000 đồng, trong đó tiền lãi là 30.000.000 đồng/10 ngày, tương đương với mức lãi suất 1%/ngày, gấp 17,8 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, chưa trả tiền gốc. Số tiền C đã thu lợi hợp pháp là 1.680.000 đồng, thu lợi bất chính bất chính số tiền 28.320.000 đồng.

- Dây vay lãi đứng lần thứ tư: Ngày 02/10/2023, C cho anh M1 vay số tiền 70.000.000 đồng, lãi suất 1%/ngày, tương đương 700.000 đồng/ngày. Từ ngày 01/10/2023 đến ngày 11/10/2023 là 11 ngày, anh M1 phải trả lãi cho C là 7.700.000 đồng nhưng do không có tiền trả nên ngày 11/10/2023, anh M1 đã thế chấp 02 xe ô tô tải do anh M1 đứng tên chủ sở hữu cho C để vay 800.000.000 đồng và dùng số tiền này để tất toán toàn bộ khoản vay và lãi của dây vay lãi đứng thứ tư. Như vậy, số tiền C cho vay là 70.000.000 đồng, số tiền anh M1 đã trả cho C là 77.700.000 đồng, trong đó tiền lãi là 7.700.000 đồng/11 ngày, tương đương với mức lãi suất 1%/ngày, gấp 17,8 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền C đã thu lợi hợp pháp là 431.200 đồng, thu lợi bất chính bất chính số tiền 7.268.800 đồng.

- Dây vay lãi đứng lần thứ năm: Ngày 04/10/2023, C cho anh M1 vay số tiền 150.000.000 đồng, lãi suất 1%/ngày, tương đương 1.500.000 đồng/ngày. Từ ngày 04/10/2023 đến ngày 11/10/2023 là 08 ngày, anh M1 phải trả lãi cho C là 12.000.000 đồng nhưng do không có tiền trả nên ngày 11/10/2023, anh M1 đã thế chấp 02 xe ô tô tải do anh M1 đứng tên chủ sở hữu cho C để vay 800.000.000 đồng và dùng số tiền này để tất toán toàn bộ khoản vay và lãi của dây vay lãi đứng thứ năm. Như vậy, số tiền C cho vay là 150.000.000 đồng, số tiền anh M1 đã trả cho C là 162.000.000 đồng, trong đó tiền lãi là 12.000.000 đồng/8 ngày, tương đương với mức lãi suất 1%/ngày, gấp 17,8 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền C đã thu lợi hợp pháp là 672.000 đồng, thu lợi bất chính bất chính số tiền 11.328.000 đồng.

- Dây vay lãi đứng lần thứ sáu: Ngày 11/10/2023, C cho anh M1 vay số tiền 800.000.000 đồng với lãi suất 10%/tháng, tương đương 80.000.000 đồng/tháng, anh M1 thế chấp tài sản để đảm bảo cho khoản vay này cho C 01 xe ô tô tải biển số 51D-377.18 và 01 xe ô tô tải biển số 51D-382.42 do anh M1 đứng tên chủ sở hữu. C trừ tiền gốc và lãi của dây đứng thứ tư là 77.700.000 đồng, trừ tiền lãi và gốc của dây đứng thứ năm là 162.000.000 đồng, trừ 60.000.000 đồng tiền nợ của các lần vay trước đó, thực chuyển cho anh M1 là 500.300.000 đồng, nhưng do hạn mức chuyển tiền của ngân hàng nên C1 chỉ chuyển cho anh M1 số tiền 499.999.999 đồng. Khoản vay này đến nay anh M1 chưa đóng lãi và chưa trả tiền cho C, bản thân C cũng không yêu cầu buộc anh M1 phải trả lãi cho mình, nên không xem xét xử lý hình sự đối với C về khoản vay này.

Tổng số tiền Nguyễn Quốc C đã thu lợi bất chính đối với 06 dây vay trả góp và 05 dây vay lãi đứng, có lãi suất vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự nêu trên là 332.882.133 đồng.

Do công việc làm ăn khó khăn, không còn khả năng trả nợ cho C nên ngày 31/12/2023, anh Cao M làm đơn tố cáo đến Công an Thành phố H yêu cầu xử lý hành vi “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” của Nguyễn Quốc C. Ngày 31/12/2023, Nguyễn Quốc C đã đến Phòng C2 Công an Thành phố H đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Nguyễn Quốc C khai nhận toàn bộ hành vi như trên.

Vật chứng vụ án:

- 01 xe ô tô tải biển số 51D-377.18 và 01 xe ô tô tải biển số 51D-382.42 do anh Cao M đứng tên chủ sở hữu. Ngày 28/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại 02 xe ô tô trên cho anh Cao M, chủ sở hữu hợp pháp.

- Số tiền 332.882.133 đồng, do bà Đinh Thị Duy P, vợ của bị can C chủ động giao nộp để khắc phục hậu quả cho bị cáo. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã nộp số tiền trên vào kho bạc nhà nước.

Cáo trạng số: 356/CT-VKSTPTĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Quốc C về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc C từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2023.

- Buộc bị cáo nộp lại tiền mà bị cáo dùng để cho vay lãi nặng đã thu về để sung quỹ nhà nước; đối với những khoản cho vay lãi nặng mà người vay chưa trả đủ tiền gốc cho bị cáo thì buộc những người này nộp số tiền gốc còn lại để sung quỹ nhà nước; tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu để sung quỹ nhà nước; tiền thu lợi bất chính mà bị cáo đã thu về để trả lại cho những người vay.

Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.

Luật sư Nguyễn Trung T bào chữa cho bị cáo tranh luận: Luật sư thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố. Tuy nhiên về mức hình phạt, Luật sư cho rằng mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là quá nghiêm khắc. Trong vụ án này, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tự giác đầu thú và chủ động nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính. Bên cạnh đó, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cũng như nhân thân của bị cáo để xử phạt bị cáo mức án bằng với thời gian bị cáo đã bị tạm giam để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và cho bị cáo cơ hội trở về với gia đình, làm ăn chân chính.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của mình, bị cáo chỉ vì tham lam nhất thời và không hiểu biết pháp luật. Quá trình tạm giam bị cáo đã rất ăn năn hối cải nên rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo có cơ hội làm ăn chân chính nuôi gia đình, con cái..

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.

[2] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người liên quan, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Từ tháng 6/2023 đến tháng 10/2023, Nguyễn Quốc C đã thực hiện hành vi cho anh Cao M vay tiền 11 lần với lãi suất cao từ 240%/tháng đến 360%/tháng, cao gấp 12 đến 17,8 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự, để thu lợi bất chính với tổng số tiền là 332.882.133 đồng. Đến ngày 31/12/2023, hành vi cho vay của C bị phát hiện và C đã đến Cơ quan Công an để đầu thú về hành vi phạm tội của mình.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và xâm phạm đến lợi ích của công dân. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi cho vay lãi nặng là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích vụ lợi nên đã cố ý thực hiện hành vi với tổng số tiền đã thu lợi bất chính là 332.882.133 đồng. Hành vi của bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 201 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Ngoài người vay tiền trên C còn cho một số người khác vay. Tuy nhiên, C cho vay không có giấy tờ, thời gian vay đã lâu và vay trong thời gian ngắn, bản thân C không nhớ thông tin vay và nhân thân người vay, nên chưa có căn cứ xử lý.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt:

Tổng số tiền bị cáo đã thu lợi bất chính là 332.882.133 đồng nên thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo cho vay lãi nặng 11 lần trong đó có 05 lần có số tiền thu lợi bất chính hơn 30.000.000 đồng nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính để khắc phục hậu quả; bị cáo chủ động ra đầu thú nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy bị cáo phạm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế vì mục đích vụ lợi, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đã chủ động ra đầu thú và nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính. Bên cạnh đó, bị cáo cũng đã bị tạm giam khoảng thời gian đủ để nhận ra lỗi lầm của mình nên không cần thiết tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà xử phạt bị cáo bằng với thời gian đã bị tạm giam cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước và pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Khoản 3 Điều 201 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Xét thấy theo quy định của pháp luật, bị cáo phải nộp lại khoản tiền dùng để cho vay, tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu để sung quỹ nhà nước; tiền thu lợi bất chính mà bị cáo đã thu để trả lại cho người vay nên Hội đồng xét xử không phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe ô tô tải biển số 51D-377.18 và 01 xe ô tô tải biển số 51D-382.42 do anh Cao M đứng tên chủ sở hữu. Ngày 28/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại 02 xe ô tô trên cho anh Cao M là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

- Đối với số tiền 332.882.133 đồng do vợ của bị cáo giao nộp để khắc phục hậu quả được trả lại cho người vay.

[7] Về xử lý tiền liên quan đến việc phạm tội:

- Buộc bị cáo nộp lại 2.470.000.000 đồng là tiền mà bị cáo dùng để cho vay lãi nặng đã thu về để sung quỹ nhà nước.

- Đối với khoản cho vay lãi đứng lần thứ 6, số tiền 500.300.000 đồng, thực chuyển số tiền 499.999.999 đồng, người vay chưa trả đủ tiền gốc cho bị cáo. Tuy nhiên, không đủ căn cứ xác định đây là lần cho vay lãi nặng nên nếu có tranh chấp thì các bên có thể khởi kiện vụ án dân sự khi có yêu cầu.

- Buộc bị cáo nộp lại 31.317.867 đồng là tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu của người vay để sung quỹ nhà nước.

- Trả lại cho anh Cao M (người vay) số tiền 332.882.133 đồng bị cáo đã thu lợi bất chính.

[8] Ý kiến tranh luận của Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc C phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

2. Về hình phạt:

- Căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc C: 07 (bảy) tháng 16 (mười sáu) ngày tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2023 (Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù).

- Căn cứ vào khoản 5 Điều 328 Bộ luật Hình sự,

Trả tự do ngay tại phiên tòa cho các bị cáo Nguyễn Quốc C, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

3. Về xử lý tiền liên quan đến việc phạm tội: Căn cứ Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao,

- Buộc bị cáo bị cáo nộp lại 2.470.000.000 đồng là tiền mà bị cáo dùng để cho vay lãi nặng đã thu về để sung quỹ nhà nước.

- Giành cho bị cáo quyền khởi kiện vụ án dân sự đối với khoản cho vay lãi đứng lần thứ 6, số tiền 500.300.000 đồng, thực chuyển số tiền 499.999.999 đồng mà người vay chưa trả đủ tiền gốc cho bị cáo.

- Buộc bị cáo nộp lại 31.317.867 đồng là tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu của người vay để sung quỹ nhà nước.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

- Trả lại cho anh Cao M số tiền 332.882.133 (ba trăm ba mươi hai triệu, tám trăm tám mươi hai nghìn, một trăm ba mươi ba) đồng.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 259/QĐ-VKS ngày 26/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Ủy nhiệm chi số 32061 ngày 10/7/2024 tại Kho bạc nhà nước thành phố T).

5. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

- Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công an thành phố Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 400/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 400/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đối với Nguyễn Quốc C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger