|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 400/2024/HNGĐ-ST Ngày 05 - 12 - 2024 V/v ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Phi Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Mạnh Tưởng và ông Nguyễn Tiến Bộ
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thùy Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Kiểm sát viên
Trong ngày 05 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở TAND huyện Mỹ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 317/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024, về việc kiện ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/ 2024/ QĐXX - ST ngày 20 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1982
HKTT: Xóm A, thôn Đ, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội.
Bị đơn: Anh Ứng Văn H1, sinh năm 1975
HKTT: Xóm A, thôn Đ, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội.
Hiện đang chấp hành án tại: Đội số 12, phân trại 2, Trại giam N.
Chị Bùi Thị H có mặt, anh Ứng Văn H1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn và những buổi làm việc tại Toà, nguyên đơn chị Bùi Thị H trình bày:
- Về hôn nhân: Chị H và anh Ứng Văn H1 tự nguyện kết hôn vào ngày 01/11/2000, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội. Sau khi cưới vợ chồng chung sống với nhau tại gia đình anh H1 xóm A, thôn Đ, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, mỗi người có một quan điểm lối sống khác nhau, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, hơn nữa anh H1 chơi bời vi phạm pháp luật và bị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 09 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hiện nay anh H1 đang chấp hành án tại Trại giam N. Nhận thấy tình cảm không còn, hạnh phúc không có, chị H đề nghị được ly hôn với anh Ứng Văn H1.
- Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Ứng Thị Xuân T, sinh ngày 28/3/2002; Ứng Thị Diệp L, sinh ngày 21/5/2003; Ứng Xuân K, sinh ngày 16/3/2014. Ly hôn chị H xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu K, không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung. Đối với cháu T, cháu L hiện nay đã trưởng thành, nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về công nợ: Không nợ lần gì ai.
Về phía bị đơn anh Ứng Văn H1 trình bầy:
- Về hôn nhân: Anh Ứng Văn H1 và chị Bùi Thị H tự nguyện kết hôn từ năm 2000. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau ngay tại gia đình anh H1 ở xóm A, thôn Đ, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, mỗi người có một quan điểm lối sống khác nhau, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống. Tháng 4 năm 2022 vợ chồng anh H1 đang làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức thì anh H1 bị bắt vì anh H1 vi phạm pháp luật. Nay chị H xin ly hôn với anh, anh H1 đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Anh Ứng Văn H1 xác nhận vợ chồng có 03 con chung là cháu Ứng Thị Xuân T, sinh ngày 28/3/2002; Ứng Thị Diệp L, sinh ngày 21/5/2003; Ứng Xuân K, sinh ngày 16/3/2014. Ly hôn anh H1 đồng ý để cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu K, xin được tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với chị H. Đối với cháu T, cháu L hiện nay đã trưởng thành, nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết.
- Về công nợ chung: Không nợ lần gì ai.
Đại diện VKSND huyện Mỹ Đức tham gia phiên toà phát biểu về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định về thủ tục tố tụng của Pháp luật TTDS trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn, bị đơn đều chấp hành đầy đủ nghĩa vụ tố tụng của mình.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị H cho chị H được ly hôn với anh Ứng Văn H1; giao chị Bùi Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Ứng Xuân K, sinh ngày 16/3/2014; tạm hoãn việc góp phí tổn nuôi con cho anh H1 đến khi chị H có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Đối với cháu T, cháu L hiện nay đã trưởng thành, nên không đề nghị Tòa giải quyết và không xem xét quan hệ tài sản chung vợ chồng do chị Bùi Thị H, anh Ứng Văn H1 đều không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Mặc dù phía bị đơn anh Ứng Văn H1 vắng mặt tại phiên tòa, nhưng anh H1 có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H1.
Về hôn nhân: Chị Bùi Thị H và anh Ứng Văn H1 tự nguyện kết hôn ngày 01/11/2000, bằng việc đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn hai anh, chị chung sống với nhau ngay tại xóm A, thôn Đ, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội. Quan hệ vợ chồng hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, mỗi người có một quan điểm lối sống khác nhau, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, hơn nữa anh H1 vi phạm pháp luật; chị H xin ly hôn với anh H1, anh H1 đồng ý ly hôn. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh H1 đã thực sự trầm trọng và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần áp dụng các quy định tại các Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 39 của BLDS chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị H và xử cho chị H được ly hôn anh Ứng Văn H1.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Ứng Thị Xuân T, sinh ngày 28/3/2002; Ứng Thị Diệp L, sinh ngày 21/5/2003; Ứng Xuân K, sinh ngày 16/3/2014. Quá trình giải quyết vụ án, chị H xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu K, anh H1 đồng ý. Xét sự tự nguyện của các bên là phù hợp và không trái với quy định của Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; HĐXX nhất trí giao cháu Ứng Xuân K, sinh ngày 16/3/2014 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; tạm hoãn việc góp phí tổn nuôi con cho anh H1 đến khi chị H có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác. Đối với cháu Ứng Thị Xuân T, sinh ngày 28/3/2002; Ứng Thị Diệp L, sinh ngày 21/5/2003; hiện nay đã trưởng thành, nên Tòa giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Bùi Thị H và anh Ứng Văn H1 đều không yêu cầu Tòa giải quyết, nên Tòa không xét.
Về án phí: Chị Bùi Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 39 BLDS; Điều 147 Bộ luật TTDS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho chị Bùi Thị H được ly hôn anh Ứng Văn H1.
- Về con chung: Giao chị Bùi Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Ứng Xuân K, sinh ngày 16/3/2014. Tạm hoãn việc góp phí tổn nuôi con cho anh Ứng Văn H1 đến khi chị H có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Anh H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Bùi Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào khoản tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên thu tạm ứng án phí số 0008097 ngày 10/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức. Chị H đã nộp đủ án phí án phí ly hôn sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lã Phi Hùng |
Bản án số 400/2024/HNGĐ-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 400/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn H-H1
