|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 400/2024/HSPT Ngày 26 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Kiều Lương
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Lệ Trang
Bà Hà Thị Thanh Nữ
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: ông Phạm Quang Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 283/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo Gịp Kỳ N cùng đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo Gịp Kỳ N, Trần Chánh M, Bùi Thị Ngọc Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2024/HSST ngày 14/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai;
Bị cáo có kháng cáo:
1/ Họ và tên: Gịp Kỳ N, sinh năm 1980 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: 40, phố E, ấp D, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Gịp A K, sinh năm 1964 và con bà Hong Lỷ K1, sinh năm 1963; Có chồng là Sẩm A C, sinh năm 1970, có 02 người con (lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2009); Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được tại ngoại.
2/ Họ và tên: Trần Chánh M, sinh năm 1980 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: 53, phố C, ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T, sinh năm 1961 và con bà Nhìn Phổ C1, sinh năm 1964; Có chồng là Lềnh A, sinh năm 1981 (đã ly hôn), có 02 người (lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2008); Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo được tại ngoại.
3/ Họ và tên: Bùi Thị Ngọc Đ, sinh năm 1975 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp G, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn Đ1 (đã chết) và con bà Sú Thị L (đã chết), có chồng là Chương Văn T1, sinh năm 1971; Có 05 người con (lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2012); Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại.
(Các bị cáo có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 15/12/2023, Công an huyện Đ phối hợp Công an xã P đã phát hiện, bắt quả tang Bùi Thị Ngọc Đ đang có hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức “ghi số đề” tại ấp G, xã P, huyện Đ và thu giữ tang vật là 01 điện thoại di động hiệu POCO X2 NFC gắn số thuê bao 0327833120. Sau khi biết Đ bị bắt, Trần Chánh M và Gịp Kỳ N đã đến Công an huyện Đ đầu thú và khai nhận hành vi đánh bạc dưới hình thức “ghi số đề” cùng với Bùi Thị Ngọc Đ; đồng thời M và N giao nộp tang vật liên quan đến hành vi phạm tội là 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A51, kiểu máy SM-A515F/DSN, số sê ri: R58N84ALS9R, gắn số thuê bao 0985086452 của N và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5s, kiểu máy CPH1912, gắn số thuê bao 0373892757 của M.
Quá trình điều tra xác định được như sau:
Gịp Kỳ N là bạn bè quen biết với Trần Chánh M, còn Bùi Thị Ngọc Đ có mối quan hệ quen biết với M. Do biết M và N có chơi đánh bạc dưới hình thức “ghi số đề” nên nên Đ đã ghi số đề thắng thua bằng tiền với những người chơi số đề, sau đó chuyển lại cho M và sau khi nhận được số đề do Đ chuyển đến thì M chuyển toàn bộ các số đề đó cho N từ ngày 09/12/2023 đến khi bị bắt quả tang. Việc chuyển số đề giữa Đ, M và N được thực hiện thông qua mạng xã hội Z từ các số điện thoại di động của Đ, M và N.
Cách thức chơi đánh bạc dưới hình thức “ghi số đề” của Gịp Kỳ N, Trần Chánh M và Bùi Thị Ngọc Đ như sau: Hàng ngày, khi những người chơi số đề có nhu cầu ghi số đề thì sẽ gọi cho Đ qua ứng dụng Zalo được đăng ký từ số điện thoại 0327.922.xxx của Đ hoặc đến gặp trực tiếp Đ để ghi số. Sau đó, Đ sẽ tổng hợp các số đã ghi được trong ngày và số tiền đánh gửi đến cho M qua tin nhắn Zalo được đăng ký từ số điện thoại 0373.892.xxx lưu tên “Chanh. Mui” của M. Sau đó, M sẽ chuyển toàn bộ số đề và số tiền đánh đề thông qua ứng dụng Zalo đến số Z của N được đăng ký từ số điện thoại 0985.086.xxx. Kết quả thắng thua được căn cứ vào
kết quả xổ số hằng ngày của sổ xố kiến thiết các tỉnh khu vực miền N. Để khuyến khích những người chơi số đề, Đ, M và N thống nhất cho những người ghi số đề được hưởng từ 15% đến 20% trên số tiền mà họ ghi. Trung bình một ngày, Đ ghi số đề cho khoảng từ 03 đến 05 người với số tiền dao động từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Đối với những người đã ghi số đề thì Đ chỉ biết mặt, tên thường gọi chứ không rõ nhân thân lai lịch, cụ thể.
Hình thức “ghi số đề” và tỷ lệ thắng thua dựa theo kết quả xổ số kiến thiết hàng ngày của các Công ty xổ số kiến thiết khu vực miền N được quy định như sau:
- - Đánh số đầu, đuôi 02 số: Đánh 02 số cuối giải tám và giải đặc biệt, tỷ lệ thắng ăn gấp 70 lần, số tiền người ghi đề phải bỏ ra nhân 02 lần, hoặc 01 lần nếu đánh số giải tám hoặc giải đặc biệt.
- - Đánh số đầu, đuôi 03 số: Đánh 03 số cuối giải bảy và giải đặc biệt, tỷ lệ thắng ăn gấp 600 lần, số tiền người ghi đề phải bỏ ra nhân 02 lần, hoặc 01 lần nếu đánh số giải bảy hoặc giải đặc biệt.
- - Đánh bao lô 02 số: Đánh 02 số cuối của 18 giải, tỷ lệ thắng ăn gấp 70 lần, sau đó nhân với số lần nếu con lô đó xuất hiện trong bảng kết quả, số tiền người ghi đề bỏ ra ghi đề nhân lên 18 lần.
- - Đánh bao lô 03 số: Đánh 03 số cuối của 17 giải, tỷ lệ thắng ăn gấp 600 lần, sau đó nhân với số lần nếu 03 số đó xuất hiện trong bảng kết quả, số tiền người ghi đề bỏ ra ghi đề nhân lên 17 lần.
- - Đánh số đá 02 số: là các cặp số cuối của 18 giải, tỷ lệ thắng ăn gấp 600 lần, số tiền người ghi đề bỏ ra ghi đề nhân lên 18 lần và số lần đá.
- - Đánh số đá 03 số: Là các cặp số 02 số cuối của 18 giải, số tiền người chơi phải bỏ ra nhân 18 lô nhân 02 số nhân 03 cặp. Tỷ lệ thắng ăn gấp 600 lần, nếu 03 con số cùng xuất hiện 01 lần thì số tiền đánh x 700 x 03 cặp.
- - Đánh xỉu chủ 03 số: Đánh 03 số cuối trong lô giải đặc biệt và giải 7, tỷ lệ thắng ăn gấp 600 lần, sau đó nhân với số lần nếu con lô đó xuất hiện trong bảng kết quả, số tiền người ghi đề bỏ ra ghi đề nhân lên 02 lần.
- - Đánh bao lô 04 số: Đánh 04 số cuối của 16 giải, tỷ lệ thắng ăn gấp 4000 lần, sau đó nhân với số lần 04 số đánh xuất hiện trong bảng kết quả, số tiền người ghi đề bỏ ra ghi đề nhân lên 16 lần.
Kết quả để tính thắng thua được dựa theo kết quả xổ số kiến thiết hàng ngày của các Công ty xổ số kiến thiết khu vực miền N và N là người trực tiếp thắng thua với những người chơi số đề. Sau khi có kết quả xổ số, N sẽ thanh toán tiền thắng thua với M và trả tiền hoa hồng cho M là 10% trên tổng số tiền mà người chơi ghi đề. Sau đó, M sẽ tính toán lại với Đ để Đ thanh toán cho người chơi số đề vào ngày
hôm sau; đồng thời M cũng thanh toán tiền hoa hồng cho Đ là 5% trên tổng số tiền mà người chơi ghi đề.
Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 15/12/2023, khi Đ đang đánh bạc bằng hình thức ghi số đề tại ấp G, xã P, huyện Đ thì bị bắt quả tang.
Căn cứ bản chiết tính phơi đề ngày 09/12/2023 đã xác định tổng số tiền mà Bùi Thị Ngọc Đ, Trần Chánh M và Gịp Kỳ N đánh bạc là 3.574.000 đồng. Căn cứ vào kết quả mở thưởng của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên xổ số kiến thiết Thành phố H ngày 09/12/2023 và phơi đề của Đ, M và N ghi cho người chơi số đề xác định có số trúng như sau:
- + Bao lô số 58 với số tiền 5.000 đồng. Kết quả trúng 01 lô, thành tiền: 350.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền mà Bùi Thị Ngọc Đ, Trần Chánh M và Gịp Kỳ N đánh bạc ngày 09/12/2023 là: 3.924.000 đồng.
Căn cứ bảng chiết tính phơi đề ngày 10/12/2023 đã xác định tổng số tiền mà Bùi Thị Ngọc Đ, Trần Chánh M và Gịp Kỳ N đánh bạc là 6.466.000 đồng. Căn cứ vào kết quả kết quả mở thưởng của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên X ngày 10/12/2023 và phơi đề của Đ, M và N ghi cho người chơi số đề xác định có số trúng sau:
- + Bao lô số 979 với số tiền 15.000 đồng. Kết quả trúng 01 lô, thành tiền: 9.000.000 đồng.
- + Bao lô số 79 với số tiền 5.000 đồng. Kết quả trúng 01 lô, thành tiền: 350.000 đồng.
- + Bao lô số 18 với số tiền 5.000 đồng. Kết quả trúng 01 lô, thành tiền: 350.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền mà Bùi Thị Ngọc Đ, Trần Chánh M và Gịp Kỳ N đánh bạc trong ngày 10/12/2023 là 16.166.000 đồng.
Căn cứ bảng chiết tính phơi đề ngày 11/12/2023 xác định tổng số tiền mà Bùi Thị Ngọc Đ, Trần Chánh M và Gịp Kỳ N đánh bạc là 2.643.000 đồng. Căn cứ vào kết quả mở thưởng của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên xổ số kiến thiết Thành phố H ngày 11/12/2023 và đối chiếu với phơi đề của Đ, M và N ghi cho người chơi số đề xác định có số trúng sau:
- + Số đá 03 số 52-63-19 với số tiền 1.000 đồng. Kết quả trúng 01 lô 63, 02 lô 19, thành tiền: 1.050.000 đồng.
- + Bao lô số 883 với số tiền 2.000 đồng. Kết quả trúng 01 lô, thành tiền: 1.200.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền Bùi Thị Ngọc Đ, Trần Chánh M và Gịp Kỳ N đánh bạc trong ngày 11/12/2023 là: 4.893.000 đồng.
Căn cứ bảng chiết tính phơi đề ngày 12/12/2023 đã xác định tổng số tiền mà Bùi Thị Ngọc Đ, Trần Chánh M và Gịp Kỳ N đánh bạc là 4.625.000 đồng. Căn cứ vào kết quả mở thưởng của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên xổ số kiến thiết tỉnh B ngày 12/12/2023 và đối chiếu với phơi đề của Đ, M và N ghi cho người chơi số đề xác định có số trúng sau:
- + Ghi số đá 03 số 39-09-89 với số tiền 2.000 đồng. Kết quả trúng 01 lô 39, 02 lô 89, thành tiền: 2.100.000 đồng.
- + Ghi số đá 02 số 39-21 với số tiền 5.000 đồng. Kết quả trúng 01 lô 39, 01 lô 21, thành tiền: 3.500.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền Bùi Thị Ngọc Đ, Trần Chánh M và Gịp Kỳ N đánh bạc trong ngày 12/12/2023 là: 10.225.000 đồng.
Căn cứ bảng chiết tính phơi đề ngày 13/12/2023 đã xác định tổng số tiền mà Bùi Thị Ngọc Đ, Trần Chánh M và Gịp Kỳ N đánh bạc là 4.645.000 đồng. Căn cứ vào kết quả mở thưởng của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên xổ số kiến thiết và dịch vụ tổng hợp tỉnh Đ ngày 13/12/2023 và đối chiếu với phơi đề của Đ, M và N ghi cho người chơi số đề xác định không có số trúng nên tổng số tiền Bùi Thị Ngọc Đ, Trần Chánh M và Gịp Kỳ N đánh bạc trong ngày 13/12/2023 là 4.645.000 đồng.
Căn cứ bảng chiết tính phơi đề ngày 14/12/2023 xác định tổng số tiền mà Bùi Thị Ngọc Đ, Trần Chánh M và G N đánh bạc với những người ghi số đề là 5.178.000 đồng. Căn cứ vào kết quả mở thưởng của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên X1 ngày 14/12/2023 và đối chiếu với phơi đề của Đ, M và N ghi cho người chơi số đề xác định có số trúng sau:
- + Đánh bao lô số 11 với số tiền 5.000 đồng. Kết quả trúng 01 lô, thành tiền: 350.000 đồng.
- + Đánh bao lô số 51 với số tiền 5.000 đồng. Kết quả trúng 01 lô, thành tiền: 350.000 đồng.
- + Đánh bao lô số 91 với số tiền 5.000 đồng. Kết quả trúng 01 lô, thành tiền: 350.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền mà Bùi Thị Ngọc Đ, Trần Chánh M và Gịp Kỳ N đánh bạc trong ngày 14/12/2023 là: 6.228.000 đồng.
Căn cứ bản chiết tính phơi đề ngày 15/12/2023 xác định tổng số tiền mà Bùi Thị Ngọc Đ, Trần Chánh M và G N đánh bạc với những người ghi số đề là là 809.000 đồng.
Tại Bản án số 65/2024/HSST ngày 14/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai đã áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản
1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Gịp Kỳ N: 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Phạt bổ sung bị cáo Gịp Kỳ N số tiền 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng).
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Chánh M: 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Xử phạt bị cáo Bùi Thị Ngọc Đ: 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngày 15/05/2024, các bị cáo có đơn kháng cáo xin hưởng án treo hoặc chuyển sang hình phạt khác nhẹ hơn.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” là đúng quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo N 01 (một) năm tù và phạt bổ sung bị cáo 15.000.000đ, xử phạt bị cáo M 08 (tám) tháng tù và xử phạt bị cáo Đ 06 (sáu) tháng tù, là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, phù hợp với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện.
Các bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo đồng thời cung cấp được một số tình tiết mới như đơn xác nhận của địa phương, chưa có tiền án tiền sự, là lao động chính trong gia đình, trong thời gian tại ngoại luôn chấp hành chính sách pháp luật tại địa phương, các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo M đã ly hôn một mình phải nuôi hai con còn nhỏ, bị cáo N và bị cáo M đều là người dân tộc, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần nhưng các lần phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, xét đây là chứng cứ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự . Căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự nghị quyết hướng dẫn Điều 65 về án treo, các bị cáo đủ điều kiện để xem xét theo quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng các của các bị cáo. Chuyển hình phạt tù của các bị cáo sang cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách buộc các bị cáo phải chấp hành.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét nội dung vụ cán: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa đã có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 09/12/2023 đến ngày 15/12/2023 các bị cáo Bùi Thị Ngọc Đ, Trần Chánh M và Gịp Kỳ N đã cùng nhau thực hiện hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức “ghi số đề” nhằm thu lợi bất chính. Quá trình điều tra đã xác định tổng số tiền mà Bùi Thị Ngọc Đ, Trần Chánh M và Gịp Kỳ N đã đánh bạc trong các ngày 10/12/2023, 12/12/2023 và 14/12/2023 lần lượt là 16.166.000 đồng, 10.225.000 đồng và 6.228.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ xử phạt các bị cáo Gịp Kỳ N (một) năm tù cùng với hình phạt bổ sung 15.000.000đ; xử phạt bị cáo Trần Chánh M 08 (tám) tháng tù và Bùi Thị Ngọc Đ 06 (sáu) tháng tù là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin hưởng án treo; Hội đồng xét xử xét thấy; ngoài những tình giảm nhẹ mà cấp sơ thẩm đã xem xét, trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm các bị cáo cung cấp 01 đơn cứu xét có xác nhận địa phương thể hiện bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, trong quá trình tại ngoại bị cáo luôn chấp hành chính sách pháp luật, bị cáo N và bị cáo M đều là người dân tộc thiểu số, bị cáo M ly hôn chồng hiện một mình phải nuôi hai con nhỏ, các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình, có hoàn cảnh gia đình khó khăn; Trong vụ án này mặc dù các bị cáo phạm tội nhiều lần nhưng các lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng; Căn cứ Điều 2 và điểm b khoản 2 Điều 3 Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; các bị cáo đều đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định. Do vậy, căn cứ vào tính chất mức độ của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử chuyển hình phạt tù của các bị cáo chuyển sang hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định, giữ nguyên hình phạt bổ sung đối với bị cáo N thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
[4] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.
[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành.
VÌ CÁC LẼ TRÊN,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Gịp Kỳ N, Bùi Thị Ngọc Đ, Trần Chánh M sửa Bản án sơ thẩm số 65/2024/HSST ngày 14/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai
Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
1.1. Xử phạt bị cáo Gịp Kỳ N 01 (một) năm tù, nhưng cho bị có được hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Phạt bổ sung bị cáo Gịp Kỳ N số tiền 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng).
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
1.2. Xử phạt bị cáo Trần Chánh M 08 (tám) tháng tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Gịp Kỳ N và bị cáo Trần Chánh M cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
1.3. Xử phạt bị cáo Bùi Thị Ngọc Đ 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Bùi Thị Ngọc Đ cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87 và khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Các bị cáo bị xét xử về tội “Đánh bạc”
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về án phí và lệ phí Tòa án; Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Kiều Lương |
Bản án số 400/2024/HSPT ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tội đánh bạc
- Số bản án: 400/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa đã có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 09/12/2023 đến ngày 15/12/2023 các bị cáo Bùi Thị Ngọc Đ, Trần Chánh M và Gịp Kỳ Ng đã cùng nhau thực hiện hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức “ghi số đề” nhằm thu lợi bất chính. Quá trình điều tra đã xác định tổng số tiền mà Bùi Thị Ngọc Đ, Trần Chánh M và Gịp Kỳ Ng đã đánh bạc trong các ngày 10/12/2023, 12/12/2023 và 14/12/2023 lần lượt là 16.166.000 đồng, 10.225.000 đồng và 6.228.000 đồng.
