Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 400/2024/HS-ST

Ngày: 05 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Bảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hồng Phượng;
  2. Bà Trần Thị Hồng Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Hoài Anh Tuyển – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thắng – Kiểm sát viên.

Từ ngày 30 tháng 7 đến ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 368/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 395/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024, đối với:

Bị cáo Phạm Thị M; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh năm 1961; Nơi sinh: tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: 232, khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Lớp 7/12; Họ tên cha: Phạm Đình Đ (đã chết); Họ tên mẹ: Vũ Thị Q (đã chết); Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; Họ tên chồng: Phạm Bá C, sinh năm 1956; bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1984, con nhỏ nhất sinh năm 1992; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 01 tháng 06 năm 2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, xử phạt số tiền 15.000.000 đồng về tội: “Đánh bạc” (Bản án số: 332/2016/HSST). Đã chấp hành xong ngày 09 tháng 6 năm 2016.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01 tháng 02 năm 2024, đến ngày 05 tháng 02 năm 2024 được hủy bỏ tạm giam và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính của vụ án:

Phạm Thị M không có việc làm. Ngày 01 tháng 02 năm 2024, M đã thực hiện hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền với những người (không rõ lai lịch) bằng hình thức bán số đề.

Cách thức đánh bạc như sau: Dựa vào kết quả xổ số kiến thiết của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên X (Đài T).

Nếu người mua đề mua hai số đầu, đuôi (mỗi 01 số tương ứng với 1.000 đồng), nếu kết quả trùng với 02 số của giải tám hoặc 02 số cuối của giải đặc biệt thì người mua thắng được số tiền gấp 70 lần số tiền đã mua.

Nếu người mua đề mua hai số bao lô (mỗi 01 điểm tương ứng với 18.000 đồng), nếu kết quả trùng với 02 số cuối của 18 lô xổ số thì người mua thắng được số tiền gấp 70 lần số tiền đã mua.

Nếu người mua đề mua ba số đầu, đuôi (còn gọi là sỉu chủ) (mỗi 01 số tương ứng với 1.000 đồng), nếu kết quả trùng với 03 số của giải 7 hoặc 03 số cuối của giải đặc biệt thì người mua thắng được số tiền gấp 500 lần số tiền đã mua.

Nếu người mua đề mua ba số bao lô (mỗi 01 số tương ứng với 17.000 đồng), nếu kết quả trùng với 03 số cuối của 17 lô xổ số thì người mua thắng được số tiền gấp 500 lần số tiền đã mua.

Nếu người mua đề mua một cặp hai số đá (mỗi 01 cặp số sẽ tương ứng với 18.000 đồng), nếu kết quả trùng với 02 số cuối của 18 lô xổ số thì thắng được số tiền gấp 350 lần số tiền đã mua đề.

Nếu người mua đề mua cặp ba số đá, bốn số đá (mỗi 01 cặp số đá sẽ tương ứng với 18.000 đồng), nếu kết quả trùng với 02 số cuối của 18 lô xổ số, thì thắng được số tiền gấp 350 lần số tiền đã mua đề cho một cặp số trùng.

Còn ngược lại, người mua đề chọn mua những số không trùng với kết quả xổ số thì M được hưởng toàn bộ số tiền của người mua đề.

Người mua đề có nhu cầu đến nhà của M tại nhà số B, khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để mua. M sẽ ghi số lô, đề khách mua vào một tờ giấy (phơi đề) kích thước 7cm x 7cm hoặc 7cm x 12cm giao cho khách và giữ lại phần mực in trên giấy than để so sánh kết quả. Để khuyến khích cho người mua đề, M trực tiếp giảm giá cho người mua số đề tùy thuộc vào số tiền mua đề nhiều hay ít. Số tiền ghi thực tế của khách được ghi trên phơi đề.

Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 01 tháng 02 năm 2024, (khi chưa có kết quả mở thưởng của Công ty X), M đã bán số đề cho khoảng 06 người với số tiền 8.798.000 đồng, số tiền thực tế thu của khách sau khi đã giảm giá là 6.916.000 đồng và đang bán số đề cho anh Bùi Trọng N (sinh năm 1973, thường trú tại 1, khu phố G, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) với số tiền 450.000 đồng, số tiền thực tế thu sau khi đã giảm giá là 355.000 đồng. Khi vừa nhận tiền của anh N thì M bị Công an thành phố B phối hợp Công an phường L, thành phố B phát hiện bắt quả tang.

Ngoài hành vi nêu trên, M khai từ ngày 30 tháng 01 năm 2024 đến ngày 01 tháng 02 năm 2024, M còn có hành vi bán số đề cho khách nhưng không nhớ bán cho bao nhiêu người, thu lợi bất chính từ việc bán số đề 250.000 đồng.

- Vật chứng vụ án:

  • + 10 (mười) tờ giấy (phơi số đề) có kích thước 7cm x 7cm và 07cm x 14cm ngày 01 tháng 02 năm 2024, có chữ ký xác nhận của Phạm Thị M.
  • + Số tiền 6.843.000 đồng do M tự nguyện giao nộp là tiền M bán số đề trong ngày 01 tháng 02 năm 2024 còn lại sau khi đã sử dụng 428.000 đồng tiêu xài cá nhân.
  • + 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo Reno, số Imel 869414048701117 của Phạm Thị M, không liên quan đến hành vi phạm tội của M nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho M.
  • + 01 (một) tờ giấy (phơi số đề) có kích thước 7cm x7cm ngày 01 tháng 02 năm 2024, có chữ ký xác nhận của Bùi Trọng N.

2. Truy tố:

Tại Cáo trạng số: 373/CT-VKSBH ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Phạm Thị M về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Phạm Thị M từ 08 (tám) tháng đến 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, trừ đi thời giam tạm giữ theo quy định.

3. Ý kiến của người tham gia tố tụng:

Bị cáo có mặt không có ý kiến tranh luận đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

4. Lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã mô tả, nhận thức được hành vi sai trái của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:

- Những chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong bản tự khai và biên bản hỏi cung bị can, kết luận giám định, bản tự khai và biên bản lấy lời khai người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 01 tháng 02 năm 2024, tại nhà số B, khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Dựa vào kết quả xổ số kiến thiết của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên xổ số kiến thiết tỉnh X, Phạm Thị M đã có hành vi bán số đề cho khoảng 06 người (không rõ lai lịch) với số tiền là 8.798.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, M đang bán số đề cho Bùi Trọng N với số tiền 450.000 đồng thì bị Công an thành phố B phối hợp Công an phường L phát hiện bắt quả tang. Tổng số tiền M đã bán số đề trong ngày 01 tháng 02 năm 2024 là 9.248.000 đồng.

- Về tội danh: Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Phạm Thị M phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, bản cáo trạng số 373/CT-VKSBH ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm gia tăng tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có kinh nghiệm sống, nhận thức được việc đánh bạc dưới mọi hình thức thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có chồng là Phạm Bá C được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân, huy chương kháng chiến nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Phạm Thị M trong thời gian tại ngoại chấp hành tốt chính sách, pháp luật tại địa phương; có nhiều tình tiết giảm nhẹ và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng; có khả năng tự cải tạo và việc không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến đến an ninh, an toàn xã hội, việc cách ly bị cáo ra ngoài xã hội là không cần thiết nên áp dụng quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự để phạt bị cáo cải tạo không giam giữ cũng đủ răn đe, giáo dục và đồng thời cũng thể hiện được sự nhân đạo của pháp luật.

Xét thấy bị cáo Phạm Thị M không có việc làm, đã lớn tuổi nên Hội đồng xét xử xem xét miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

[3] Về các vấn đề khác:

Đối với Bùi Trọng N có hành vi đánh bạc bằng hình thức mua số đề vào ngày 01 tháng 02 năm 2024 với số tiền 450.000 đồng. N chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, gá bạc và tổ chức đánh bạc, đồng thời số tiền dùng đánh bạc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an thành phố B đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

[4] Về các biện pháp tư pháp:

  • - Lưu hồ sơ 10 (mười) tờ giấy (phơi số đề) có kích thước 7cm x 7cm và 7cm x 14cm ngày 01 tháng 02 năm 2024, có chữ ký xác nhận của Phạm Thị M; 01 (một) tờ giấy (phơi số đề) có kích thước 7cm x 7cm ngày 01 tháng 02 năm 2024, có chữ ký xác nhận của Bùi Trọng N.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 6.843.000 đồng là tiền M bán số đề trong ngày 01 tháng 02 năm 2024 còn lại sau khi đã sử dụng 428.000 đồng tiêu xài cá nhân.
  • - Buộc Phạm Thị M nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền 428.000 đồng sử dụng vào việc phạm tội và 250.000 đồng thu lợi bất chính từ việc phạm tội.

[5] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên và người tham gia tố tụng tại phiên tòa:

  • - Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh, mức hình phạt phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
  • - Đối với phần trình bày của bị cáo tại phiên tòa được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Phạm Thị M phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị M 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 01 tháng 02 năm 2024 đến ngày 05 tháng 02 năm 2024 (05 ngày tạm giữ bằng 15 ngày cải tạo không giam giữ). Bị cáo còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 15 (mười lăm) ngày cải tạo không giam giữ.

Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Phạm Thị M cho Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình của bị cáo Phạm Thị M có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Phạm Thị M.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

  • - Buộc Phạm Thị M nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền 428.000 đồng sử dụng vào việc phạm tội và 250.000 đồng thu lợi bất chính từ việc phạm tội.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 6.843.000 đồng.

(Theo Giấy nộp tiền mặt vào Kho bạc Nhà nước Đ1 số 26224717 ngày 30 tháng 7 năm 2024)

3. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Phạm Thị M phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Áp dụng các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS thành phố Biên Hòa;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự TP.Biên Hòa
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Vũ Bảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 400/2024/HS-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về đánh bạc

  • Số bản án: 400/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 01 tháng 02 năm 2024, tại nhà số B, khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Dựa vào kết quả xổ số kiến thiết của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên xổ số kiến thiết tỉnh X, Phạm Thị M đã có hành vi bán số đề cho khoảng 06 người (không rõ lai lịch) với số tiền là 8.798.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, M đang bán số đề cho Bùi Trọng N với số tiền 450.000 đồng thì bị Công an thành phố B phối hợp Công an phường L phát hiện bắt quả tang. Tổng số tiền M đã bán số đề trong ngày 01 tháng 02 năm 2024 là 9.248.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger