|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 40 /2024/HNGĐ-ST Ngày 31 tháng 7 năm 2024 Về việc: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Dương Thị Nam
- Ông Trần Văn Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Giáp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình: Không tham gia phiên tòa
Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 86/2024/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 về việc tranh chấp Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 33/QĐST - HNGĐ ngày 26/7/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Tạ Thị Tuyết N, sinh năm 1997
Địa chỉ: Xóm N, xã H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
(Chị N có mặt tại phiên tòa)
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1992
Địa chỉ: Xóm N, xã H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
(Anh H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Tạ Thị Tuyết N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn H tự nguyện kết hôn, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã H vào ngày 05/3/2018, có được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn chị về nhà anh H làm dâu, chung sống cùng gia đình chồng. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc, sau đó vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống hàng ngày luôn xảy ra cãi vã. Nguyên nhân, do anh H thường xuyên chơi bời, không chịu tu chí làm ăn dẫn đến nhiều nợ nần và cuộc sống gia đình gặp khó khăn, giữa anh chị có những bất đồng quan điểm trong sinh hoạt hàng ngày và cả vấn đề về kinh tế nên thường xuyên cãi chửi nhau, xô xát khiến cho không khí gia đình luôn căng thẳng ngột ngạt. Đã rất nhiều lần chị khuyên anh thay đổi nhưng anh H không chịu thay đổi, không thể chịu đựng được nên chị phải về nhà bố mẹ đẻ ở. Vợ chồng sống ly thân nhau đã lâu, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là: Nguyễn Trung K, sinh ngày 09/4/2019 và Nguyễn Hồng Q, sinh ngày 25/9/2020. Từ khi vợ chồng sống ly thân thì cháu Q ở cùng với chị, cháu K ở cùng với anh H. Khi ly hôn chị có nguyện vọng muốn được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Q và đồng ý giao cháu K cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có
Về công nợ chung: Không có nợ chung
Bị đơn anh Nguyễn Văn H trong quá trình giải quyết trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị N tự nguyện kết hôn vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H. Sau khi kết hôn chị N về nhà anh làm dâu, anh chị sinh sống, làm ăn tại địa phương. Vợ chồng chung sống hòa thuận, tuy có xảy ra mâu thuẫn do thời gian vừa qua anh có ham chơi nhưng anh đã thay đổi, lo làm ăn để chăm lo cho các con và gia đình. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, mong muốn vợ chồng quay về đoàn tụ để cho các con có bố, có mẹ. Vì vậy, anh không nhất trí ly hôn với chị N.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là: Nguyễn Trung K, sinh ngày 09/4/2019 và Nguyễn Hồng Q, sinh ngày 25/9/2020. Trường hợp phải ly hôn anh yêu cầu được trực tiếp nuôi cả hai con chung, anh không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có
Về công nợ chung: Không có nợ chung
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án đã kiên trì hòa giải, tạo điều kiện cho các đương sự có thời gian để suy nghĩ, tìm biện pháp giải quyết mâu thuẫn vợ chồng, với mục đích để vợ chồng về đoàn tụ cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên, các bên đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm của mình và không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Vì vậy, Tòa án phải quyết định đưa vụ án ra xét xử công khai theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa: Chị N vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn với anh H, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung là cháu Q và đồng ý giao cháu K cho anh H nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung, nợ chung chị xác định không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Tạ Thị Tuyết N và anh Nguyễn Văn H kết hôn đã được Ủy ban nhân dân xã H cấp giấy chứng nhận kết hôn số 11 vào ngày 05/3/2018. Vì nhiều nguyên nhân, nay chị Tạ Thị Tuyết N khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn H có nơi cư trú tại xóm N, xã H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án Hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự tham gia tố tụng của đương sự:
Ngày 26/7/2024 Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm, nhưng bị đơn anh Nguyễn Văn H mặc dù đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1, Điều 227 của Bộ Luật tố tụng Dân sự ra quyết định hoãn phiên tòa số: 33 /2024/QĐST- HNGĐ ngày 26/7/2024 và đồng thời tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đương sự tham gia phiên tòa tại nơi thường trú của bị đơn. Tuy nhiên, tại phiên tòa lần thứ hai bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điểm b, Khoản 2, Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Tạ Thị Tuyết N và anh Nguyễn Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo luật định. Vì vậy, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Lý do chị N xin ly hôn anh H là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh H ham chơi bời, không chịu tu chí làm ăn, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày và những vấn đề liên quan đến kinh tế, khiến cho cuộc sống gia đình luôn căng thẳng, ngột ngạt. Vợ chồng sống ly thân nhau đã lâu, không ai quan tâm đến ai. Nay chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn nên làm đơn xin ly hôn với anh H. Trong quá trình giải quyết anh H cũng xác nhận vợ chồng hiện đang sống ly thân nhau, mặc dù vợ chồng có mâu thuẫn nhưng chỉ là mâu thuẫn nhỏ, anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để cho các con có bố có mẹ nên anh H không nhất trí ly hôn với chị N.
Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa chị N vẫn kiên quyết xin ly hôn với anh H, phía anh H không nhất trí ly hôn nhưng cũng không đưa ra được phương án nào để thuyết phục chị N về đoàn tụ. Bản thân anh H cũng xác nhận anh đã nhiều lần động viên chị N quay về nhưng chị N không đồng ý, hiện nay vợ chồng vẫn đang sống ly thân. Như vậy, Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn giữa chị N và anh H đã ở tình trạng trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung vợ chồng không tồn tại nên cần chấp nhận yêu cầu của chị N, cho chị N được ly hôn với anh H là phù hợp với thực tế và quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Chị N và anh H có 02 con chung là cháu Nguyễn Trung K, sinh ngày 09/4/2019 và Nguyễn Hồng Q, sinh ngày 25/9/2020.
Trong quá trình giải quyết, chị Tạ Thị Tuyết N và anh Nguyễn Văn H không thỏa thuận được với nhau về người trực tiếp nuôi con chung. Cả chị N và anh H đều có nguyện vọng trực tiếp nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Q đang sống ổn định cùng chị N và vẫn còn nhỏ nên rất cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng của mẹ. Do vậy, cần giao cho chị N trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Hồng Q, sinh ngày 25/9/2020, anh H trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Trung K, sinh ngày 09/4/2019 là phù hợp với thực tế và pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N và anh H đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về quyền thăm nom con: Sau khi ly hôn, chị N và anh H, có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
[2.3] Về tài sản chung: Không có
[2.4] Về công nợ chung: Chị N và anh H đều xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị N phải chịu án phí Ly hôn sơ thẩm sung quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật.
[2.6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 271 và Điều 273 của BLTTDS năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51và Điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu kiện của chị Tạ Thị Tuyết N, cho chị N được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
- Về con chung: Giao cho chị Tạ Thị Tuyết N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Hồng Q, sinh ngày 25/9/2020, anh Nguyễn Văn H trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Trung K, sinh ngày 09/4/2019 cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
Về cấp dưỡng nuôi con: Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về quyền thăm nom con: Chị N và anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị N và anh H có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có
- Về công nợ chung: Không có
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí Ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí Ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003803 ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt chị N, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt anh H, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thủy |
Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên về ly hôn
- Số bản án: 40/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
