|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2024/DS-PT
Ngày 31-5-2024
“v/v tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Tạ Duy Ước.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Ánh.
Ông Bùi Đức Thanh.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phan Hải, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh: Bà Vũ Ngọc Quyên, Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 35/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 56/2023/DS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh bị kháng cáo và kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 58/2024/QĐPT-DS ngày 08 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 56/2024/QĐ-PT ngày 20 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
Anh Ngô Tiến Hương N, sinh năm 1980 và chị Dương Thị Mỹ L, sinh năm 1983; Cùng trú tại: Tổ E Khu D, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Đều vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền: bà Phạm Thị H; Nơi cư trú: Khu C, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
2. Bị đơn:
Anh Huỳnh Thanh L1, sinh năm 1988 và chị Lê Thị Vân A, sinh năm 1991; Cùng trú tại: Tổ E Khu D, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Đều có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Trần Thanh T, sinh năm 1996.
Nơi cư trú: Tổ 5 Khu A, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân thành phố H.
Địa chỉ: Số B B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
2
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:
+) Bà Lưu Hải Y, chức vụ: Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường, Giám đốc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố H.
+) Ông Vũ Đức M, chức vụ: Chuyên viên Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố H.
Bà Y có mặt, ông M vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân phường C, thành phố H.
Địa chỉ: phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
Người đại diện theo uỷ quyền: ông Phạm Văn T1, chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường C. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
4. Người kháng cáo:
Bị đơn – chị Lê Thị Vân A.
5. Viện kiểm sát kháng nghị:
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, phần trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Gia đình anh Ngô Tiến Hương N và chị Dương Thị Mỹ L có quyền sử dụng thửa đất số 38A, tờ bản đồ số 16, diện tích 90m² đất ở tại địa chỉ Tổ E Khu D, phường C, thành phố H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 787605, số vào sổ H 40474 do UBND thành phố H cấp ngày 22/06/2009. Nguồn gốc thửa đất do nhận chuyển nhượng lại của ông Lê Văn T2, bà Nguyễn Thị U vào ngày 17/04/2012, được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố H xác nhận việc chuyển nhượng ngày 26/04/2012. Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất, gia đình anh N, chị L không có nhu cầu ở nên đã cho thuê. Đến tháng 10/2022, anh chị có nhu cầu cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên, nên đã thuê Công ty cổ phần Đ đo đạc, khảo sát lại thửa đất trên thực địa. Kết quả đo đạc khảo sát, anh chị mới biết thửa đất gia đình bị hộ giáp ranh đang quản lý sử dụng thửa đất số 38B, tờ bản đồ số 16 là anh Huỳnh Thanh L1, vợ là chị Lê Thị Vân A lấn chiếm trái pháp luật một phần diện tích đất. Cụ thể: ngôi nhà mà anh L1 và chị Vân A đang ở, cùng sân bê tông, tường rào đã lấn sang thửa đất của anh chị diện tích 14,1m² đất ở. Tranh chấp đất đã được hòa giải cơ sở tại UBND phường C nhưng kết quả hòa giải không thành.
Vì vậy, anh N, chị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Huỳnh Thanh L1, chị Lê Thị Vân A phá bỏ phần nhà, tường rào, sân bê tông đã xây lấn chiếm, theo như Sơ đồ khảo sát hiện trạng sử dụng đất kèm theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 01/6/2023 là 14,1 m² đất ở của anh chị, để trả lại 14,1m² đất ở thuộc thửa đất số 38A, tờ bản đồ số 16 tại địa chỉ Tổ E Khu D, phường C, thành phố H theo Giấy chứng nhận quyền sử đụng dất số AP 787605, số vào sổ H 40474 do UBND thành phố H cấp ngày 22/06/2009 cho gia đình anh N, chị L.
3
Bị đơn anh Huỳnh Thanh L1, chị Lê Thị Vân A trình bày:
Ngày 16/4/2022, anh L1 và chị Vân A nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất từ anh Vũ Anh T3 và chị Nguyễn Thị Thanh N1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 787606, số vào sổ H 40475 cấp ngày 22/6/2019 mang tên Nguyễn Thế L2, Trần Thị H1; đăng ký biến động cho anh T3, chị N1 ngày 30/3/2011. Về nguồn gốc thửa đất và nhà trên đất, qua tìm hiểu, anh chị được biết, năm 2005, vợ chồng anh T2, chị U mua lại của ông H2 thửa đất số 38, tờ bản đồ số 16, trên thửa đất có 01 móng nhà, cạnh móng nhà là 01 cái bếp, cạnh bếp là một căn nhà cấp 4, lúc đó thửa đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến ngày 10/5/2006, anh T2, chị U được UBND thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 199134, số vào sổ 27543, thửa số 38, tờ bản đồ số 16, diện tích 212,1m², mang tên Lê Văn T2, Nguyễn Thị U. Anh L1, chị Vân A không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với lý do: Từ khi anh chị nhận chuyển nhượng của anh Vũ Anh T3 và chị Nguyễn Thị Thanh N1, anh chị không xây sửa, cải tạo nhà, không có bất kỳ hành vi lấn chiếm nào đối với đất và nhà của anh N, chị L. Căn nhà anh chị đang sử dụng và căn nhà thuộc quyền sở hữu của anh N, chị L đã có từ rất lâu trước khi anh chị và anh N, chị L nhận chuyển nhượng. Sau khi nhận chuyển nhượng, cả hai căn nhà này đều không có bất kỳ sự sửa chữa, cải tạo nào. Đồng thời, quá trình sử dụng, giữa hai bên cũng không phát sinh tranh chấp về ranh giới. Khi nhận chuyển nhượng của anh T3, chị N1, anh chị không tiến hành đo đạc toàn bộ diện tích trên thửa đất này, nhưng anh chị đã kiểm tra đối với các ranh giới của các hộ giáp ranh với thửa đất trên thực địa và thấy không có tranh chấp gì. Anh chị không được bàn giao giấy phép xây dựng đối với công trình xây dựng trên thửa đất. Quá trình sử dụng, anh chị không xây dựng gì thêm, không làm thủ tục gì để xin cấp phép xây dựng. Vì anh chị không biết diện tích thực tế của thửa đất là 136,2m², nên khi thực hiện việc chuyển nhượng, anh chị chỉ kê khai diện tích là 122,1m². Anh chị không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tháo dỡ phần căn nhà và các công trình trên đất tranh chấp, vì anh chị không có lỗi trong việc lấn chiếm đất và khi làm thủ tục chuyển nhượng đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với nhà nước.
Ủy ban nhân dân thành phố H và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp có quan điểm:
Các thửa đất số 38A+38B tờ 16 (tách từ thửa đất số 38 tờ bản đồ số 16 năm 2009) bản đồ địa chính 1997 thuộc phường C, thành phố H có nguồn gốc và quá trình sử dụng như sau:
- Thửa đất số 38 tờ 16 bản đồ địa chính phường C được UBND thành phố cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu số AÐ 199134, số vào sổ 27543 ngày 10/5/2006 cho ông bà Lê Văn T2 - Nguyễn Thị U, có diện tích 212,1m² đất ở, nguồn gốc: Nhà nước công nhận quyền sử dụng như giao đất có thu tiền sử dụng đất.
- Năm 2009, ông bà Lê Văn T2 - Nguyễn Thị U tách thửa 38 tờ 16 thành thửa
4
38A+38B tờ bản đồ số 16 và chuyển nhượng thửa 38B tờ bản đồ số 16, hồ sơ được UBND thành phố giải quyết. Kết quả, UBND thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 787605, số vào sổ H40474 ngày 22/6/2009 tại thửa 38A tờ 16, diện tích cấp giấy là 90,0 m² đất ở và giấy chứng nhận AP 787606, số vào sổ H40475 ngày 22/6/2009, diện tích 122,1 m² đất ở là đảm bảo quy định và không chồng lấn ranh giới, không chồng lấn diện tích, phù hợp với tài sản gắn liền với đất khi chia tách.
- Ngày 17/4/2012, ông bà Lê Văn T2 - Nguyễn Thị U chuyển nhượng thửa đất số 38A tờ 16, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 787605, số vào sổ H40474 ngày 22/6/2009, diện tích 90,0 m² đất ở cho anh chị Ngô Tiến Hương N - Dương Thị Mỹ L theo Hợp đồng chuyển nhượng được Văn phòng C1 Quảng chứng nhận ngày 17/4/2012, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố H xác nhận chuyển quyền ngày 26/4/2012. Tại thời điểm chuyển nhượng, các bên có kê khai tờ khai thuế, nộp thuế trước bạ nhà, đất theo Thông báo số 2155 CCT/TNCN-TB ngày 24/4/2012 với tài sản gắn liền với đất là nhà cấp 4 diện tích 40,0 m². Quá trình sử dụng thửa đất số 38A tờ 16 từ khi nhận chuyển nhượng ngày 17/4/2012 đến nay: anh chị Ngô Tiến Hương N - Dương Thị Mỹ L chưa kê khai, đăng ký biến động về ranh giới, diện tích sử dụng đất so với ranh giới, diện tích được UBND thành phố H cấp giấy chúng nhận quyền sử dụng đất số AP 787605, số vào sổ H40474 ngày 22/6/2009 tại thửa 38A tờ 16, diện tích cấp giấy là 90,0 m² đất ở.
- Ngày 15/3/2011, ông bà Nguyễn Thế L2 - Trần Thị H1 chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 38B tờ bản đồ số 16, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 787606, số vào sổ H40475 ngày 22/6/2009, diện tích 122,1 m² đất ở cho anh chị Nguyễn Anh T4 - Vũ Thị Thanh N2 theo hợp đồng chuyển nhượng được Văn phòng C1 Quảng chứng nhận ngày 15/3/2011, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố H xác nhận biến động ngày 30/3/2011. Tại thời điểm chuyển nhượng, các bên có kê khai tờ khai thuế, nộp thuế trước bạ nhà theo Thông báo số 2285 CCT/TNCN-TB ngày 28/3/2011 với tài sản gắn liền với đất là nhà cấp 4 diện tích 40,0 m². Quá trình sử dụng thửa đất số 38B tờ bản đồ số 16, từ ngày 15/3/2011 đến ngày 08/4/2022 là các anh chị Nguyễn Thế L2 - Trần Thị H1 và Nguyễn Anh T4 - Vũ Thị Thanh N2 đều chưa kê khai, đăng ký biến động về ranh giới, diện tích sử dụng đất so với ranh giới, diện tích được UBND thành phố H cấp giấy chứng nhận QSD đất AP 787606, số vào sổ H 40475 ngày 22/6/2009, diện tích 122,1 m² đất ở. Ngày 08/4/2022, anh chị Nguyễn Anh T4 - Vũ Thị Thanh N2 chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất trên cho anh chị Huỳnh Thanh L1 - Lê Thị Vân A theo Hợp đồng chuyển nhượng được Văn phòng C1 Quảng chứng nhận ngày 08/4/2022, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố H xác nhận chuyển quyền ngày 16/4/2022. Tại thời điểm chuyển nhượng, các bên có kê khai tờ khai thuế, nộp thuế trước bạ nhà, đất theo Thông báo số LTB 2222501-TK0014467/RB-CCT ngày 12/4/2022 với tài sản gắn liền với đất là nhà cấp 4 diện tích 60,0 m². Hồ sơ chuyển nhượng không có giấy tờ về nhận chuyển nhượng diện tích đất tăng thêm so với với
5
Giấy chúng nhận đã được cấp và hồ sơ đủ điều kiện giải quyết theo Điều 188 Luật Đất đai 2013 do thửa đất: Có Giấy chứng nhận, Đất không có tranh chấp; Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án; Trong thời hạn sử dụng đất.
Việc có sự sai khác giữa diện tích, ranh giới sử dụng đất thực tế so với diện tích, ranh giới được giấy chứng nhận quyền đất tại thửa đất số 38A+38B tờ số 16 bản đồ địa chính phường C không xuất phát từ việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND thành phố H (khi chia tách thửa không chồng lấn ranh giới thửa đất) mà do các chủ sử dụng đất tự điều chỉnh ranh giới, diện tích sử dụng đất so với ranh giới, diện tích được UBND thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không kê khai, đăng ký với Cơ quan quản lý nhà nước và không bàn giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất khi chuyển quyền theo Giấy chứng nhận quyền đất được UBND thành phố cấp. UBND thành phố H kiến nghị Tòa án xem xét đến phần đất mà phía nguyên đơn đã xây dựng vượt quá diện tích đất liên quan đến phần kè không nằm trong giấy chứng nhận đã được cấp ban đầu số AÐ 199134, số vào sổ 27543 ngày 10/5/2006 cho ông bà Lê Văn T2 - Nguyễn Thị U.
Ủy ban nhân dân phường C trình bày:
Thửa đất số 38B tờ số 16 được UBND thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 787606, số vào sổ H40475 ngày 22/6/2009, diện tích 122,1 m² đất ở. Tại biên bản kiểm tra thực địa ngày 28/5/2009 của UBND phường C thể hiện: thửa số 38B tờ 16 không có công trình nhà ở và đã được bên chuyển quyền sử dụng đất và bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký xác nhận.
Những người làm chứng trình bày:
- Ông Nguyễn Văn A có quan điểm: Vợ chồng con gái ông là Nguyễn Thị U - Lê Văn T2 sống trên thửa đất số 38, tờ bản đồ số 6 tại Tổ E Khu D phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh do mua lại của ông H2, tại thời điểm đó, vợ chồng ông đang sinh sống tại Tổ E Khu D, phường C. Sau khi bị thu hồi đất, vợ chồng ông về sinh sống cùng chị U, anh T2 trong căn nhà cấp 4 trên thửa đất số 38, tờ bản đồ số 16. Khoảng năm 2005, vợ chồng ông được chị U, anh T2 cho một phần đất để xây nhà ở riêng, vợ chồng ông đã xây dựng một căn nhà kiên cố trên nền móng có sẵn của chủ cũ là ông H2 đã xây dựng. Khi ông xây nhà xong, ông bà có cho chị U, anh T2 tiền để xây nhà mới. Đến khoảng năm 2006, chị U, anh T2 đã phá ngôi nhà cấp 4 cũ để xây một ngôi nhà mới, chị U anh T2 xây nhà hết phần diện tích đất còn lại. Đến năm 2009, gia đình thống nhất để anh Nguyễn Thế L2 (con trai ông Ẩ) đứng tên nhà đất để vay vốn Ngân hàng. Do đó, UBND thành phố H đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 787606, số vào sổ H40475 ngày 22/6/2009 đứng tên con trai ông là Nguyễn Thế L2 và Trần Thị H1 tại thửa đất số 38B, tờ bản đồ số 16, còn thửa đất bên cạnh mang tên chị Nguyễn Thị U - Lê Văn T2 (là thửa đất số 38A, tờ bản đồ số 16). Đến năm 2011, vợ chồng ông bán lại nhà đất đang sinh sống cho anh Nguyễn Anh T4 - chị Nguyễn Thị Thanh N1, sau đó chuyển đến Tổ A Khu A, phường H, thành phố H để sinh sống. Hiện nay, căn nhà này vẫn giữ nguyên hiện
6
trạng như ban đầu vợ chồng ông xây dựng.
- Chị Nguyễn Thị U trình bày: Năm 2005, vợ chồng chị có mua một thửa đất tại thửa số 38, từ bản đồ số 16 thuộc Tổ E Khu D, C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh của ông H2. Khi mua, trên đất đã có sẵn một móng nhà có diện tích khoảng 60m², tiếp giáp với móng về phía bờ kè đá là một căn nhà cấp 4. Đến năm 2006, vợ chồng chị được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích là 212,1m². Năm 2006, bố mẹ chị là ông Nguyễn Văn A, bà Dương Thị T5 đến sinh sống cùng với vợ chồng chị trên thửa đất trên tại căn nhà cấp 4 trên thửa đất này. Năm 2006, vợ chồng chị cho bố mẹ xây nhà cấp 3 trên toàn bộ diện tích móng nhà có sẵn, nhà xây dựng có kết cấu kiên cố, có khung bê tông, gạch chịu lực, diện tích sàn nhà khoảng 60m², đồng thời làm sân và xây tường ngăn cách giữa nhà chị và nhà bố mẹ chị, ranh giới tường ngăn cách là từ vị trí mép nhà tiếp giáp với phần đất của chị kẻ thẳng ra đến đường đi chung của xóm. Sau khi bố mẹ chị xây xong căn nhà của ông bà, bố mẹ có cho chị tiền để xây nhà mới. Khoảng cuối năm 2006, vợ chồng chị phá ngôi nhà cấp 4 cũ để xây nhà mới. Vị trí ngôi nhà vợ chồng chị xây sát cạnh nhà của bố mẹ đã xây, chỉ để lại một khoảng cách nhỏ khoảng 15-20 cm giữa hai nhà. Ngôi nhà vợ chồng chị xây hết phần đất còn lại đến tiếp giáp với kè đá và có nền nhà và sân thấp hơn nền nhà và sân nhà của bố mẹ chị khoảng 01m, ngôi nhà vợ chồng chị xây là nhà cấp 4, xây bằng gạch đỏ, mái tôn chống nóng.
Năm 2009, để thuận tiện cho việc vay vốn ngân hàng để kinh doanh của em trai chị U là Nguyễn Thế L2, gia đình chị thống nhất cho phép anh L2 đúng tên căn nhà và thửa đất số 38B, diện tích 122,1m² mang tên Nguyễn Thế L2 và Trần Thị H1, thửa đất còn lại trên có ngôi nhà của vợ chồng chị tại thửa số 38A được cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chị là Nguyễn Thị U và anh Lê Văn T2. Ngày 17/4/2012, vợ chồng chị ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất với anh N, chị L. Khi chuyển nhượng, các bên không tiến hành đo đạc thực tế diện tích đất. Đối với thửa đất tại thửa số 38B, chị được biết đến ngày 15/3/2011, anh L2, chị H1 đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (bao gồm cả căn nhà bố chị xây) cho anh Nguyễn Anh T4 và chị Vũ Thị Thanh N2.
Lý do Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số H40474 ngày 22/6/2009 mang tên Nguyễn Thị U và Lê Văn T2 lại có diện tích 90 m² nằm đè lên ngôi nhà và khoảng sân bố mẹ chị đã xây dựng là 14,1 m², chị hoàn toàn không biết.
Tại biên xác minh ngày 14/9/2023, Tổ trưởng Tổ 59 Khu D phường C có nội dung: Khoảng năm 2005, anh Lê Văn T2 và chị Nguyễn Thị U có mua thửa đất số 38 thuộc tổ E, khu D phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh của ông H2, thời điểm đó trên thửa đất có 01 ngôi nhà cấp 4 và một móng nhà do ông H2 xây dựng. Sau đó, ông Ầ bà T5 có chuyển đến sinh sống trên thửa đất này và có xây nhà trên một phần đất của chị U, anh T2 vào khoảng năm 2006. Cùng năm đó thì vợ chồng chị U, anh T2 cũng phá dỡ ngôi nhà cấp 4 và xây nhà mới. Quá trình quản lý sử dụng sau đó chị U, anh T2 có chuyển nhượng nhà, đất cho anh N, chị L, còn thửa đất ông Ầ, bà T5 sử dụng thì chuyển
7
nhượng cho anh T4, chị N2, sau đó anh T4, chị N2 tiếp tục chuyển nhượng cho anh L1, chị Vân A. Về thời điểm xây nhà, ông Ầ, bà T5 xây nhà vào năm 2006, đến cuối năm 2006 chị U, anh T2 cũng xây nhà, đến đầu năm 2007 thì xây xong. Nhà ông Ầ, bà T5 và nhà chị U, anh T2 nằm sát cạnh nhau trên cùng thửa đất, nhà ông Ầ cao hơn nhà chị U khoảng 01m. Quá trình các hộ dân xây dựng, tổ dân phố không thấy có phát sinh mâu thuẫn. Từ khi ông Ầ, bà T5, chị U, anh T2 xây nhà cho đến nay, tổ dân khu phố không thấy các hộ gia đình sinh sống trên hai ngôi nhà này thực hiện việc xây dựng, cơi nới, cải tạo các công trình xây dựng.
Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 01/6/2023 thể hiện thửa đất sổ 38B, tờ bản đồ số 16 Diện tích thửa đất là 136,2m² có 01 ngôi nhà cấp 3 một tầng, 01 gác xép, tường xây bằng gạch đỏ chịu lực, mái đổ bê tông, xây dựng năm 2006; diện tích nhà 61,4m², diện tích gác xép là 34,1m²; 01 sân trước nhà diện tích 24,1m²; toàn bộ sân lát bằng gạch gốm màu đỏ, quanh sân có xây lan can, có con chỉ chắn, chiều cao lan can tính từ mặt sân lên là 0,7m, có 53 con tiện bê tông. Phía trước sân có khoảng 6,2m² đổ bê tông ra hết diện tích đất đến mặt đường, phía dưới tiếp giáp với đường đi là cổng đi vào, có sân cổng diện tích 6,2m²; từ sân cổng đi lên có 08 bậc đi lên nhà, chiều dài từ bậc đầu tiên đến mép sân vòng cung dài nhất (bên ngoài) là 4,4m, vòng cung bên trong là 3,5m. Có 01 cổng sắt cao 1,8m, phía Bắc thửa đất là tường bao quanh bằng gạch đỏ, bề rộng tường là 10cm, kéo dài từ trụ cổng phía Bắc đến mép nhà phụ, cao trung bình 2,5m. Có 01 nhà phụ, diện tích 20m, xây dựng vào năm 2007, phía trên sân nhà có 01 giàn chằng bằng dây điện thoại, có 08 cột sắt chống đỡ, trên giàn có cây hoa tử đằng leo.
- Đối với thửa đất số 38A, tờ bản đồ số 16 diện tích thửa đất là 75,9m² có 01 ngôi nhà cấp 4, xây tường gạch, lợp mái tôn, diện tích nhà là 53,9m², phía trước nhà có mái che toàn bộ khoảng sân, kết cấu có vỉ sắt ở phía trước, có thanh sắt ở phía tường nhà, có 03 cột sắt đỡ vì kèo ở phía trước; toàn bộ khoảng sân phía trước lát bằng gạch men, kích thước 25cmx25cm kiểu hoa văn nhiều chấm sỏi. Trong sân tiếp giáp với đầu tường nhà thửa số 38B, là tường bao sân kéo dài đến cột sắt thứ hai và ngược lên phía cửa nhà, toàn bộ tường hoa bao sân kiểu xây vuông cách ô thoáng dài khoảng 6m, khoảng cách từ cửa sổ của nhà chính ra 1,5m là đường đi xuống cổng, gồm 10 bậc và có lan can bằng inox chiều dài khoảng 3m, cao 0,6m, bên cạnh bậc đi lên nhà là khoảng sân đổ bê tông rộng 01m, dài 2,5m. Giữa ngôi nhà thửa số 38B và ngôi nhà trên thửa số 38A là một khe trống rộng 15cm, nền nhà và sân thửa số 38A thấp hơn nền nhà thửa số 38B khoảng 01m.
Tại Biên bản định giá tài sản ngày 26/7/2023 có nội dung:
Tổng giá trị của quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất có tranh chấp của thửa số 38B là 390.790.000 đồng trong đó: Giá trị quyền sử dụng đất 14,1m² là 49.744.800 đồng; Giá trị công trình nhà còn lại là 328.323.270 đồng; Gạch lát đất nung là 930.637 đồng; con tiện bê tông là 1.258.856 đồng và mái che trên cổng bằng bê tông là 10.532.058 đồng.
8
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 56/2023/DS-ST ngày 30/11/2023 của Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu buộc bị đơn phải phá dỡ một phần căn nhà tại thửa số 38B tờ bản đồ số 16, thuộc Tổ 59 Khu D phường C, thành phố H để trả lại đất cho nguyên đơn. Buộc bị đơn là anh Huỳnh Thanh L1 và chị Lê Thị Vân A phải trả cho anh Ngô Tiến Hương N và chị Dương Thị Mỹ L số tiền là 33.163.200đ (ba mươi ba triệu, một trăm sáu mươi ba nghìn hai trăm đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, anh Ngô Tiến Hương N và chị Dương Thị Mỹ L có đơn yêu cầu thi hành án, mà anh Huỳnh Thanh L1 và chị Lê Thị Vân A không thực hiện nghĩa vụ trả tiền (trả không đủ, hoặc không trả) cho anh N, chị L, thì hàng tháng anh L1, chị A còn phải trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả (lãi suất chậm thi hành án được thực hiện theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự). Buộc bị đơn là anh Huỳnh Thanh L1 và chị Lê Thị Vân A phải tự tháo dỡ các kiến trúc xây dựng có trên đất, trả lại cho anh N, chị L 4,7m² đất, vị trí được xác định tại bản đồ khảo sát hiện trạng kỹ thuật thửa đất (ban hành kèm theo bản án) trong đó phía Bắc từ vị trí số 7 - 11 chiều dài là 5,13m; phía Nam từ vị trí số 18 - 6 chiều dài là 5,28m; phía Đông từ vị trí số 11 - 18 chiều ngang là 1,01m; phía Tây từ vị trí số 6 - 7 chiều ngang là 0,75m; địa chỉ tại: thửa số 38B tờ bản đồ số 16, thuộc Tổ 59 Khu D phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh đăng ký biến động tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho phù hợp.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng (xem xét, thẩm định tại chỗ và định già tài sản) và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 08/12/2023, bị đơn chị Lê Thị Vân A có đơn kháng cáo đối với toàn bộ bản án sơ thẩm với lý do bị đơn không có hành vi xâm phạm quyền sử dụng đất; ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm buộc bị đơn tháo dỡ 4,7m² trong khi phần diện tích này có một phần là bể nước dùng cho sinh hoạt, công trình cổng làm bệ đỡ cho phần sân, bể nước và nhà, nếu phá dỡ sẽ ảnh hưởng đến kết cấu chung của cả ngôi nhà; vì vậy, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.
Ngày 29/12/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh kháng nghị đối với bản án sơ thẩm về xác định quan hệ pháp luật, áp dụng thiếu điều luật, giải quyết mâu thuẫn với nhận định, phần quyết định của bản án và án phí. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng sửa bản án dân sự sơ thẩm.
Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/5/2024 và Sơ đồ thể hiện: trên phần sân lát gạch trước cửa nhà anh L1 và chị Vân A có 01 (một) bể nước ngầm, ở phía dưới phần sân lát gạch đỏ, nắp bể nằm cạnh tường rào (cao 0,7m) ngăn giữa hai nhà, có thể tích: 06m³, có một phần (2,1m²) nằm trên diện tích đang tranh chấp. Trên sân thượng ngôi nhà của anh L1 và chị Vân A có một giàn chằng bằng dây điện thoại, có 09 (chín) cột sắt chống đỡ; ở phía Nam và phía Đông của sân thượng, trên phần mi có hàng lan
9
can (bằng sắt) cao khoảng 0,7m. Ngoài ra, các tài sản trên thửa 38A và 38B không có gì thay đổi so với biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 01/6/2023 của Toà án nhân dân thành phố Hạ Long.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn chị Lê Thị Vân A giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn tại cấp phúc thẩm là ông Trần Thanh T có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo. Đối với diện tích 4,7m² bị đơn buộc phải tháo dỡ hiện có một phần là bể nước của gia đình đang sử dụng, nếu phải tháo dỡ sẽ ảnh hưởng đến kết cấu của ngôi nhà. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Nguyên đơn đơn giữ nguyên quan điểm khởi kiện đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân thành phố H và Ủy ban nhân dân phường C có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn có quan điểm căn cứ vào các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có quan điểm không đồng ý với kháng cáo của bị đơn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát, sửa bản án theo hướng bị đơn phải bồi thường cho nguyên đơn giá trị tương ứng với phần lấn chiếm, buộc bị đơn phải tháo dỡ phần sân và phần mi đã chồng lấn lên tường nhà của nguyên đơn (0,7m²).
Đại diện Viện kiểm sát có quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Về tố tụng: Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử phúc thẩm vụ việc; Các đương sự đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Về nội dung: căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát, sửa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
[1] Về tố tụng:
[1.1] Kháng cáo của bị đơn – chị Lê Thị Vân A và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh thực hiện trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Là tranh chấp về quyền sử dụng đất, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phá bỏ phần nhà, tường rào, sân bê tông đã xây lấn chiếm; các đương sự đã được UBND phường C hoà giải nhưng không thành nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật
10
tố tụng dân sự và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 như Toà án cấp sơ thẩm nhận định là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, cần xác định quan hệ pháp luật đầy đủ là “Tranh chấp quyền sử dụng đất và buộc tháo dỡ công trình xây dựng trên đất”.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn – chị Lê Thị Vân A, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
Theo Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 21/11/1997, giấy chuyển nhượng nhà đất ngày 21/02/1998 thửa đất số 38 tờ bản đồ 16 có diện tích 212,1m² thuộc Khu D phường C, thành phố H xác định người sử dụng đất là bà Vũ Thị C và bà C chuyển nhượng cho ông Lê Văn T2. Ông T2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 199134 số vào sổ 27543 ngày 10/5/2006 đứng tên Lê Văn T2 và Nguyễn Thị U nên đất có nguồn gốc của ông T2 và bà U được nhận chuyển nhượng, trên đất có 01 ngôi nhà.
Ông T2 và bà U sử dụng đất đến năm 2006 đã làm thủ tục tách diện tích đất trên thành 02 thửa 38A và 38B, được UBND thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 199134 số vào sổ 27543 ngày 10/5/2006 diện tích 122,1m2 thuộc thửa 38B và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 787605 số vào sổ H 40474 ngày 22/6/2009 diện tích 90m2 thuộc thửa 38A trên đất thửa 38A có 01 ngôi nhà (G1) đều đứng tên ông Lê Văn T2, bà Nguyễn Thị U.
Ngày 01/6/2009, ông T2, bà U chuyển nhượng cho anh Nguyễn Thế L2 chị Trần Thị H1 thửa đất 38B tờ bản đồ 16 có diện tích 122,1m2 theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 01/6/2009 được UBND phường C chứng thực và đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.
Ngày 15/03/2011, ông Nguyễn Thế L2 và bà Trần Thị H1 chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Anh T4 và bà Vũ Thị Thanh N2 diện tích 122,1m2 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 118 quyển số 03/TP/CC – SCC/HĐGD và được đăng ký sang tên tên người sử dụng đất ông Nguyễn Anh T4 và bà Vũ Thị Thanh N2.
Ngày 17/4/2012, ông T2, bà U chuyển nhượng cho anh Ngô Tiến Hương N, chị Dương Thị Mỹ L diện tích 90m2 thuộc thửa đất số 38A tờ 16 theo Hợp đồng chuyển nhượng được Văn phòng C1 Quảng chứng nhận ngày 17/4/2012 đến ngày 26/4/2012 đã đăng ký biến động đứng tên anh N, chị L trên đất có 01 ngôi nhà. Căn cứ vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đăng ký bến động người sử dụng đất đã có đủ căn cứ xác định anh N, chị L được xác lập quyền sử dụng đất diện tích đất 90m2 từ năm 2012 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào vào sổ H40474 ngày 22/6/2009. Hiện trạng tài sản trên đất có 01 ngôi nhà (ký hiệu G1).
Ngày 16/4/2022, ông T4 và bà N2 chuyển nhượng cho ông Huỳnh Thanh L1 và bà Lê Thị Vân A diện tích 122,1m2 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 1020 quyển số 02/2022/TP/CC – SCC/HĐGD và được đăng ký sang tên người sử dụng đất ông Huỳnh Thanh L1 và bà Lê Thị Vân A.
11
Như vậy, căn cứ nội dung các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên thì ông Huỳnh Thanh L1 và bà Lê Thị Vân A chỉ được xác lập quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 122,1m2 thuộc thửa 38B tờ bản đồ số 16 do được nhận chuyển nhượng của ông T4, bà N2 và anh Ngô Tiến Hương N, chị Dương Thị Mỹ L được xác lập quyền sử dụng đất đối với diện tích 90m2 thược thửa 38A tờ bản đồ 16 do được chuyển nhượng của ông Lê Văn T2, bà Nguyễn Thị U đều đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên người sử dụng đất chỉ được quyền sử dụng đất đối với diện tích đất được xác lập theo hợp đồng và được xác định trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nội dung các hợp đồng chuyển nhượng trước đó và đến khi hợp đồng do ông Huỳnh Thanh L1 và bà Lê Thị Vân A nhận chuyển nhượng thửa đất 38B đều không có nội dung chuyển nhượng tài sản trên đất là ngôi nhà và một phần ngôi nhà trên phần đất tranh chấp cũng như phần đất đang tranh chấp.
Về tài sản trên đất tranh chấp: Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng tại sơ đồ cấp giấy chứng nhận, giấy chuyển nhượng nhà đất ngày 21/2/1998, Hồ sơ kỹ thuật thửa đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 10/5/2006, phiếu trình ngày 18/5/2006 đều thể hiện có 01 ngôi nhà cấp 4 (G1); Hồ sơ tách thửa tại phiếu trình ngày 03/6/2009 cũng thể hiện thửa đất 38 có nhà cấp 4 và tách thành thửa 38A diện tích 90m2, thửa 38B diện tích 122,1m2, tại trích đo bản đồ địa chính thửa đất xin tách thửa chuyển nhượng thể hiện thửa 38A có nhà g1 và thửa 38B không có nhà, sơ đồ nhà đất đăng ký và xin cấp giấy chứng nhận năm 2009 của thửa 38B cũng không có nhà trên đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp sau khi tách thửa cũng thể hiện thửa 38B không có nhà, thửa 38A có nhà g1. Như vậy, cả quá trình từ năm 1998 tại hồ sơ kỹ thuật thửa đất, năm 2006 khi lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận, năm 2009 thực hiện thủ tục tách thửa hồ sơ đều chỉ thể hiện thửa 38A có nhà g1 nên có căn cứ xác định nhà và công trình của thửa 38B được hình thành sau các thời điểm này. Tại thông báo nộp thuế thu nhập cá nhân ngày 28/3/2011 đối với ông Nguyễn Thế L2 và thông báo nộp thuế trước bạ nhà đất ngày 28/3/2011 đối với ông Nguyễn Anh T4 đối với thửa đất 38B mới có nội dung nhà cấp 4 diện tích 40m2 trên đất nhưng không xác định được vị trí có thuộc phần đất tranh chấp hay không và không xác định được phần bể nước, bờ tường xây vào thời điểm nào. Đối với lời khai của bà Nguyễn Thị U, ông Nguyễn Văn Ầ đều có lời khai ngôi nhà xây trên phần đất tranh chấp được xây từ khoảng 2006 trước khi tách thửa năm 2009 nhưng không có chứng cứ khác để chứng minh và không phù hợp với các chứng cứ về hồ sơ địa chính năm 1998, hồ sơ cấp giấy chứng nhận 2006, hồ sơ tách thửa đất năm 2009.
Như vậy, về quyền sử dụng đất khi nhận chuyển nhượng nội dung các hợp đồng giữa các bên chỉ có đối tượng là quyền sử dụng đất thửa đất 38A diện tích 90m2 và thửa 38B diện tích 122,1m2 và số tiền thanh toán cho diện tích đất theo hợp đồng nên người nhận chuyển nhượng chỉ được quyền sử dụng đất theo đúng diện tích, vị trí được nhận chuyển nhượng. Đối với tài sản trên đất khi chuyển nhượng không có nội dung mua bán nhà và công trình trên đất nhưng tại các thông báo nộp thuế năm 2011 có kê khai nhà
12
cấp 4 trên đất khi các bên thực hiện hợp đồng đã chuyển giao công trình trên đất cho bên nhận chuyển nhượng đất, nay không có tranh chấp về tài sản trên đất. Do vậy, phần tài sản của thửa 38B có một phần nằm trên diện tích đất của thửa đất 38A, tại Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 01/6/2023 và ngày 24/5/2024 xác định diện tích đất hiện nay vợ chồng anh Huỳnh Thanh L1 và chị Lê Thị Vân A sử dụng là 136,2m², trong đó diện tích đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 787606 là 122,1m², diện tích đất có nhà và công trình lấn sang thửa đất số 38A là 14,1m² có bức tường, có 01 bể nước và phần mái nhà nằm trên 14,1m² đất (trong đó 0,76m² mi nhà của thửa 38B lấn đè lên phần ngôi nhà của thửa 38A) đối với bể nước và phần tường rào, mái nhà lấn sang đất đều xây dựng kiên cố nếu phải tháo dỡ để trả lại đất cho thửa 38A thì sẽ ảnh hưởng đến kết cấu công trình, thẩm mỹ công trình cũng như công năng sử dụng, các công trình này đều có giá trị cao hơn giá đất nên không thực hiện phá dỡ được. Riêng phần mi 0,76m² đè lên khoảng không của ngôi nhà trên thửa 38A có diện tích nhỏ và vị trí không quan trọng có thể phá dỡ mà không ảnh hưởng đến kết cấu công trình cũng như thẩm mỹ, công năng sử dụng nên buộc tháo dỡ phần này để trả lại khoảng không cho nguyên đơn còn các phần công trình xây dựng khác trên đất không phá dỡ được thì bên có công trình được sử dụng đất của thửa 38A và phải có nghĩa vụ thanh toán giá trị tiền đất cho bị đơn theo quy định. Việc bị đơn sử dụng 13,34m² của thửa 38A không ảnh hưởng đến giá trị phần đất còn lại của thửa đất 38A và đảm bảo giá trị sử dụng cửa thửa đất, phù hợp với quy định của pháp luật.
Theo kết quả định giá, diện tích đất trên có giá trị 2.800.000đ/m². Tổng giá trị 13,34m² (1,64 + 4,7 + 07)m² x 2.800.000đ/m² x 1,2 x 1,05 = 47.063.520đ (bằng chữ: bốn mươi bảy triệu, không trăm sáu mươi ba nghìn, năm trăm hai mươi đồng).
Quan điểm UBND thành phố H về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tách thửa được hiện theo đúng quy định về diện tích, ranh giới của từng thửa đất và những người sử dụng chưa kê khai thay đổi ranh giới nên quyền sử dụng đất của họ được xác định theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo đúng quy định.
Từ những phân tích, nhận định trên có đủ cơ sở xác định diện tích đất 14,1m² tranh chấp là thuộc diện tích của thửa đất 38A đã được xác lập quyền sử dụng đất cho anh Ngô Tiến Hương Nvà chị Dương Thị Mỹ Lhiện nay anh Huỳnh Thanh L1 và chị Lê Thị Vân A đang quản lý, sử dụng không có căn cứ pháp luật và các công trình trên đất của anh L1 và chị Vân A quản lý đang tồn tại trên đất thửa 38A không phá dỡ được nên chị Vân A và anh L1 được quyền sử dụng đất 13,34m² (phần không thể tháo dỡ) của anh N, chị L nên phải có nghĩa vụ thanh toán giá trị cho anh N, chị L theo quy định. Toà án cấp sơ thẩm đã xác định diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn là đúng quy định nhưng buộc tháo dỡ bức tường trả lại 4,7m² đất của bị đơn để trả lại đất cho nguyên đơn trong khi đó diện tích đất này có 01 chiếc bể ngầm phía dưới của bị đơn là chưa phù hợp thực tế nên cần sửa án sơ thẩm để đảm bảo quyền lợi của các bên. Vì vậy,
13
nội dung kháng cáo của chị Lê Thị Vân A đối với diện tích có bể nước là có cơ sở chấp nhận còn các nội dung khác không có căn cứ.
[4] Xem xét nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát.
Thứ nhất, về xác định quan hệ pháp luật: như đã phân tích ở phần [1.2], Toà án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp chưa đầy đủ, vì vậy, cần chấp nhận phần kháng nghị này của Viện kiểm sát.
Thứ hai, bản án buộc bị đơn anh L1 và chị Vân A phải trả một khoản tiền và tuyên nghĩa vụ chậm trả đối với bị đơn nhưng không viện dẫn áp dụng Điều 357 BLDS quy định về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ là thiếu xót; ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm chưa xem xét nghĩa vụ liên đới của vợ chồng anh chị L1, Anh đối với khoản tiền phải trả. Xét thấy Toà án cấp sơ thẩm đã có thiếu sót khi xem xét về nghĩa vụ chậm trả của bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Ngoài ra, do quyền sử dụng đất và tài sản trên đất đối với thửa đất số 38B, tờ bản đồ số 16 là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, thuộc tài sản chung hợp nhất của anh L1 và chị Vân A, nên Toà án cấp sơ thẩm chưa tuyên buộc các bị đơn phải có nghĩa vụ liên đới trả tiền cho nguyên đơn và chưa áp dụng Điều 288 BLDS là thiếu sót. Vì vậy, phần kháng nghị này của Viện kiểm sát có căn cứ chấp nhận
Thứ ba, kháng nghị nội dung Bản án sơ thẩm phải tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, trong đó buộc bị đơn tháo dỡ phần công trình không kiên cố, còn phần công trình kiên cố được thanh toán bằng tiền; việc tuyên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự. Mặt khác, bản án tuyên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng lại nhận định do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn tiền chi phí tố tụng (số tiền 9.500.000đ) là vi phạm khoản 1 Điều 157 BLTTDS.
Căn cứ vào nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị Toà án buộc gia đình bị đơn phá bỏ phần nhà, tường rào, sân bê tông đã xây lấn chiếm. Toà án cấp sơ thẩm xét thấy việc tháo dỡ phần nhà và sân nhà bị đơn đang quản lý sử dụng lấn sang một phần thửa đất của nguyên đơn sẽ ảnh hưởng đến kết cấu của ngôi nhà, không thể thi hành được; chỉ có thể tháo dỡ phần mi nhà không phải là nhà kiên cố; từ đó, quyết định chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên không chấp nhận phần kháng nghị này của Viện kiểm sát.
Đối với phần chi phí tố tụng, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chỉ được chấp nhận một phần, nên căn cứ khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 165, nguyên đơn và bị đơn mỗi bên phải chịu ½ số tiền chi phí tố tụng, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận phần kháng nghị này của Viện kiểm sát.
Thứ tư, kháng nghị về phần án phí, bản án sơ thẩm tuyên nguyên đơn phải nộp án phí đối với yêu cầu không được chấp nhận là không đúng, vi phạm khoản 3 Điều 26
14
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, như đã phân tích ở trên, việc Toà án cấp sơ thẩm tuyên chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Vì vậy, buộc nguyên đơn phải nộp án phí đối với yêu cầu không được chấp nhận là có căn cứ, đúng quy định tại khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết 326. Vì vậy, phần kháng nghị này của Viện kiểm sát không được chấp nhận.
Từ những chứng cứ và phân tích nêu trên, có đủ cơ sở xác định nguyên đơn có quyền sử dụng đất đối với diện tích tranh chấp nên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ; kháng cáo của bị đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát có cơ sở nên cần chấp nhận một phần kháng cáo và kháng nghị.
[5] Về chi phí tố tụng:
Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 9.500.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên nguyên đơn và bị đơn mỗi bên phải chịu một nửa chi phí nêu trên. Anh N và chị L đã nộp đủ số tiền 9.500.000 đồng. Vì vậy, cần buộc bị đơn anh L1 và chị Vân A có nghĩa vụ liên đới trả cho anh N và chị L số tiền 4.750.000đ.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:
do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận một phần nên nguyên đơn và bị đơn mỗi bên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với trường hợp không có giá ngạch theo quy định tại khoản 4 Điều 26 và điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326. Ngoài ra, bị đơn còn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 47.063.520₫ phải trả cho nguyên đơn.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn – chị Lê Thị Vân A, vì vậy, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 148 BLTTDS và khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Vân A không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự; chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn chị Lê Thị Vân A, chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
Sửa một phần Bản án sơ thẩm số 56/2023/DS-ST ngày 30/11/2023 của Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 148, Điều 157, Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 163, Điều 164, Điều 165, Điều 166, Điều 357, Điều 468, Điều 579, Điều 580 Bộ luật Dân sự; Điều 166, Điều 170 Luật Đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 26 khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số
15
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngô Tiến Hương N và chị Dương Thị Mỹ L đối với bị đơn anh Huỳnh Thanh L1 và chị Lê Thị Vân A về việc tranh chấp quyền sử dụng đất và tháo dỡ tài sản trên đất.
Anh Huỳnh Thanh L1 và chị Lê Thị Vân A có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho anh Ngô Tiến Hương N và chị Dương Thị Mỹ L số tiền là 47.063.520đ (bốn mươi bảy triệu, không trăm sáu mươi ba nghìn, năm trăm hai mươi đồng) và phải có nghĩa vụ phá dỡ phần mi nhà xây đè lên phần nhà của anh Ngô Tiến Hương N và chị Vũ Thị Thùy L3 có diện tích 0,76m² được giới hạn bởi các điểm 15-16-17-18-15 (theo sơ đồ kèm theo bản án).
Anh Huỳnh Thanh L1 và chị Lê Thị Vân A được quyền sử dụng diện tích đất 13,34m² thuộc một phần thửa đất 38A tờ bản đồ số 16 tại Tổ E Khu D phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 787605, số vào sổ H 40474 do UBND thành phố H cấp ngày 22/6/2009 cho anh Lê Văn T2 và chị Nguyễn Thị U được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố H xác nhận chuyển nhượng cho anh Ngô Tiến Hương N và chị Dương Thị Mỹ L ngày 26/4/2012, được giới hạn bởi các điểm 6-7-11-12-13-14-15-18-19-6 (theo sơ đồ kèm theo bản án).
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh đăng ký biến động giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
2. Về chi phí tố tụng:
Anh Huỳnh Thành L4 và chị Lê Thị Vân A có nghĩa vụ liên đới trả cho anh Ngô Tiến Hương N và chị Dương Thị Mỹ L số tiền 4.475.000đ (bốn triệu, bốn trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
3. Về án phí:
Anh Huỳnh Thanh L1 và chị Lê Thị Vân A phải liên đới chịu 2.653.176đ (hai triệu, sáu trăm năm mươi ba nghìn, một trăm bảy mươi sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Ngô Tiến Hương N và chị Dương Thị Mỹ L phải liên đới chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ đi số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí chị Phạm Thị H đã nộp thay, theo biên lai thu tiền số 0001361 ngày 08/2/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, anh N và chị L đã nộp đủ.
Chị Lê Thị Vân A không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại cho chị Vân A số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm, đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000330 ngày 18/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các
16
khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Tạ Duy Ước |
Bản án số 40/2024/DS-PT ngày 31/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 40/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp quyền sử dụng đất
