|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc —————————————— |
Bản án số: 40/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 31 - 5-2024
“V/v: Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đồng.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông: Bùi Ngọc Hà;
- Bà: Lê Thị Chung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Phượng –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh tham gia phiên tòa: Bà K'Dem – Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 443/2023/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2023 về việc: “Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 72/2024/QĐST ngày 08 tháng 4 năm 2024 và thông báo thay đổi thời gian xét xử số 91/2024/TB-TA ngày 08 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thu L, sinh năm 1980.
Địa chỉ: số A đường P, phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Lê Vũ D, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Nhà bà Vũ Thị M, thôn C, xã L, huyện D, Lâm Đồng.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và phiên tòa nguyên đơn bà Phạm Thị Thu L trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Tôi (Phạm Thị Thu L) và ông D đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, Tp Đ, tỉnh Lâm Đồng năm 2006. Hôn nhân do hai bên tự nguyện, có tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống chung với nhau tại thành phố Đ tỉnh Lâm Đồng, vợ chồng sống chung hòa thuận đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là vì ông D mối quan hệ ngoài vợ chồng, tôi đã từng bị người phụ nữ khác đánh ghen tại nơi làm việc, sự việc này tôi đã trình báo với công an xã L. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2023 cho đến nay. Nay tôi xác định vợ chồng không còn tình cảm, không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi (Phạm Thị Thu L) được ly hôn với ông Lê Vũ D.
+ Về con chung: Vợ chồng tôi có 02 người con: cháu Lê Hoàng Thảo T, sinh ngày 21/06/2007 và cháu Lê Hoàng Nam N, sinh ngày 04/4/2009. Hiện nay cháu T và cháu N đang ở với tôi.
Khi ly hôn tôi yêu cầu giao cháu T và cháu N cho tôi trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi.
+ Về cấp dưỡng nuôi con: Trước đây tôi có yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung cháu Lê Hoàng Thảo T với mức cấp dưỡng 2.500.000đ/01 tháng và cháu Lê Hoàng Nam N với mức cấp dưỡng là 2.500.000đ/01 tháng. Tuy nhiên, hiện nay ông D vẫn tự nguyện gửi tiền chu cấp đều nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung.
+ Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Tài sản nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Lê Vũ D đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án nhưng không có ý kiến trình bày gửi cho Tòa án; Tòa án đã triệu tập ông D nhiều lần để lấy lời khai, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử nhưng ông D đều vắng mặt không có lý do nên không ghi nhận được ý kiến, lời khai.
- Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu quan điểm về tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký là đúng quy định của pháp luật.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Thu L giải quyết cho bà Phạm Thị Thu L được ly hôn với ông Lê Vũ D. Giao cháu Lê Hoàng Thảo T, sinh ngày 21/06/2007 và cháu Lê Hoàng Nam N, sinh ngày 04/4/2009 cho bà Phạm Thị Thu L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi.
+ Về án phí: Bà Phạm Thị Thu L chịu 300.000 đồng án phí xin ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát. Tòa án nhân dân huyện Di Linh nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập ông Lê Vũ D nhiều lần đến Tòa để giải quyết vụ án nhưng ông D đều vắng mặt không có lý do, là chấp hành không nghiêm thông báo, triệu tập của Tòa án và tự từ bỏ quyền được trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Xét phiên tòa được mở đến lần thứ hai nhưng ông Lê Vũ D vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 - Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Lê Vũ D theo thủ tục chung.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Phạm Thị Thu L khởi kiện xin ly hôn, giải quyết nuôi con chung khi ly hôn với ông Lê Vũ D. Do đó quan hệ tranh chấp là: “Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” theo khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Nơi bị đơn cư trú là huyện D, tỉnh Lâm Đồng nên Tòa án nhân dân huyện Di Linh có thẩm quyền giải quyết vụ án theo điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 – Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thu L và ông Lê Vũ D tự nguyện kết hôn năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, Đ, Lâm Đồng. Cuộc sống chung sống của vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn đến đầu năm 2023 thì mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân ông Lê Vũ D có quan hệ ngoài vợ chồng nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Hiện vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2023 đến nay. Từ khi sống ly thân đến nay vợ chồng mỗi người sống một nơi, mạnh ai người đó sống, vợ chồng không còn ai quan tâm, chăm sóc đến nhau. Nay bà Phạm Thị Thu L xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông Lê Vũ D, vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà L được ly hôn ông D.
Xét mâu thuẫn giữa bà L và ông D đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho bà L và ông D được ly hôn.
[4] Về con chung: Nguyên đơn bà L trình bày vợ chồng có 02 con chung là: Lê Hoàng Thảo T; sinh ngày: 21/06/2007, Lê Hoàng Nam N; sinh ngày: 04/4/2009. Hiện đang ở chung với bà L.
Khi ly hôn bà L yêu cầu giao cháu T và cháu N cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Trong khi ông D không có ý kiến trình bày gì.
Xét các con chung đang cư trú, sinh sống và học tập tại thành phố Đ cùng với mẹ là bà L, xét cần thiết giao cho bà L trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung để đảm bảo sự ổn định cuộc sống của các con chung nên giao cháu T và cháu N cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu T và cháu N đủ 18 tuổi là phù hợp.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa bà L không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập giải quyết tiếp.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn bà L trình bày về tài sản chung tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết, về nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong khi ông D không đến Tòa án làm việc nên không có lời khai. Vì vậy Tòa án không đề cập giải quyết tài sản chung, nợ chung trong bản án này. Trường hợp phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết trong vụ án khác.
[7] Về án phí: Căn cứ Điều 144; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bà L phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là phù hợp
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147, khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thu L và ông Lê Vũ D được ly hôn.
- Về con chung: Giao cho bà Phạm Thị Thu L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung là cháu Lê Hoàng Thảo T, sinh ngày 21/06/2007 và cháu Lê Hoàng Nam N, sinh ngày 04/4/2009 cho đến khi đủ 18 tuổi.
- Về án phí: Bà Phạm Thị Thu L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm xin ly hôn. Được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0002913 ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay, các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp, không trực tiếp nuôi con, thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Đồng |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ (Ký tên, ghi rõ họ tên) |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Nguyễn Văn Đồng |
Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn
- Số bản án: 40/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
