Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HS-ST

Ngày 31 tháng 5 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Phương Quyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Phước Công, ông Nguyễn Văn Trí.

Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Nhựt Huy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Lợi - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2024/TLST-HS ngày 4 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST-HS ngày 16/5/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Khắc Q (Hai lúa), sinh năm 1992: nơi sinh: huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: khóm L, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa (học vấn) 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1964 và bà Trần Thị Mai H, sinh năm 1965; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Ngày 07/12/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 20/01/2023; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 20/11/2023 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A; có mặt.

Bị hại: Bà Lê Thị Ngọc L, sinh năm 1959; địa chỉ: ấp L, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1964, bà Trần Thị Mai H, sinh năm 1965; cùng địa chỉ: khóm L, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt

Người làm chứng: Ông Phan Xuân S; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 18/11/2023, Nguyễn Khắc Q điều khiển xe mô tô biển số 67L2-195.57 đến tiệm điện thoại di động của bà Lê Thị Ngọc L tại ấp L, xã K, huyện C. Quy dựng xe trước cửa tiệm, rồi đi vào trong tiệm gặp bà L hỏi mua điện thoại, thì bà L đưa 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y11, màu xanh cho Q xem, tiếp đó Q kêu bà L bán 04 thẻ cào điện thoại V, mệnh giá 50.000 đồng, lợi dụng lúc bà L in thẻ cào điện thoại, thì Q cầm điện thoại di động hiệu Vivo Y11, nhanh chóng ra xe chạy đi, bà L tri hô, đuổi theo nhưng không kịp, nên trình báo sự việc đến Công an. Q đem bán điện thoại di động đã chiếm đoạt của bà L cho người đàn ông (không rõ họ, tên, địa chỉ) với giá 600.000 đồng. Ngày 20/11/2023, Q bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp.

Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng: 01 xe mô tô biển số 67L2-195.57, nhãn hiệu Future Neo, màu trắng – xám, số máy JC35E2015466, số khung RLHJC350X7Y605306 do Nguyễn Văn B đứng tên.

Kết luận định giá tài sản số 72/KL-HĐĐG.TTHS ngày 24/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y11, màu xanh (đã qua sử dụng, đang sử dụng) có giá trị 1.400.000 đồng.

Kết luận giám định số 05/KL-KTHS ngày 31/01/2024, của Phòng K - Công an tỉnh A, kết luận:

  • Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa trên 04 tập tin video lưu trữ trong USB gửi giám định;
  • Trích xuất 17 ảnh từ dữ liệu 04 tập tin video lưu trữ trong USB (ký hiệu A) do Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C gửi giám định, chi tiết thể hiện trong phụ lục kèm theo.

Phiếu trả lời xác minh xe ngày 12/3/2024 của Công an huyện C: Xe mô tô biển số 67L2-195.57, nhãn hiệu Future Neo, màu trắng xám, số máy JC35E2015466, số khung RLHJC350X7Y605306 do Nguyễn Văn B đứng tên. Quy bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C khởi tố, tạm giam để điều tra xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 42/CT-VKSCM ngày 03 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang truy tố bị cáo Nguyễn Khắc Q về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Khắc Q vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn B, bà Trần Thị Mai H xác nhận: Quy là con ruột của ông bà, sau khi phạm tội thì ông bà có cho tiền để bị cáo bồi thường cho bà L là 1.700.000 đồng và ông B có giao nộp cho cơ quan công an xe mô tô biển số 67L2-195.57. Bị hại và người làm chứng vắng mặt nhưng có lời khai phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 171, điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc Q từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho ông Nguyễn Văn B 01 xe mô tô biển số 67L2-195.57.

Bị cáo Nguyễn Khắc Q không có ý kiến tranh luận; xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

- Tại phiên tòa bị hại Lê Thị Ngọc L, người làm chứng Phan Xuân S vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử. Do đó, căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 18/11/2023, tại cửa hàng điện thoại di động của bà Trần Thị Ngọc L1 thuộc ấp L, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; khi được bà L1 đưa điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y11, màu xanh trị giá 1.400.000 đồng cho bị cáo xem thì bị cáo đã nhánh chóng chiếm đoạt chiếc điện thoạicủa bà L1 rồi nhanh chóng tẩu thoát. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” tội phạm và

hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự tại địa phương, ảnh hưởng xấu đến đời sống bình thường của xã hội.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì bản tính tham lam, thích hưởng thụ, muốn có tiền nhanh chóng để tiêu xài mà không phải tốn công sức cực nhọc có được mà bị cáo đã bất chấp tất cả cố ý phạm tội, bằng thủ đoạn lợi dụng sơ hở của người khác để cướp giật tài sản rồi dùng xe mô tô nhanh chóng tẩu thoát. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, ảnh hưởng xấu đến đời sống bình thường của xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tình tiết tăng nặng: Bản thân bị cáo có tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, trong khi chưa được xóa án tích thì bị cáo tiếp tục phạm tội, do đó, với lần phạm tội mới này của bị cáo được xem là “tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự,

Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự khai thừa nhận lần phạm tội trước đó đây là tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng theo điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét thấy: Phần trách nhiệm dân sự bị hại đã nhận tiền bồi thường không yêu cầu gì về dân sự; về hình phạt tại phiên tòa bị cáo được áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nhưng phải chịu 01 tình tiết tăng nặng theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; hậu quả do tội phạm gây ra là nghiêm trọng. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội nên mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất mức độ mà tội phạm đã gây ra nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Xét thấy, bản thân bị cáo không có nghề nhiệp ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tiền bồi thường xong và không yêu cầu gì thêm về dân sự nên không xét đến.

[7] Về vật chứng: Đối với 01 xe mô tô biển số 67L2-195.57 là tài sản của ông Nguyễn Văn B1, ông B1 không biết bị cáo lấy xe dùng vào việc phạm tội nên cần trả lại xe này cho ông B1.

[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khắc Quy phạm t “Cướp giật tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 20/11/2023).

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Trả lại cho ông Nguyễn Văn B 01 xe mô tô biển số 67L2-195.57. (Đặc điểm tang vật như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/5/2024).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Khắc Q phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Chợ Mới;
  • - Sở Tư pháp; Bộ phận THAHS Tòa án;
  • - Trại tạm giam, Công an tỉnh An Giang;;
  • - Chi cục Thi hành án DS huyện;
  • - Nhưng người tham gia tố tụng;

- Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Phương Quyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang về hình sự (cướp giật tài sản)

  • Số bản án: 40/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp giật tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Khắc Q bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới truy tố về tội Cướp giật tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 171 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger