Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH TÂN

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31 - 5 - 2024

V/v tranh chấp “ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN - TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Kim Ngân

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trương Văn Ánh
  2. Ông Lê Minh Thư

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Điền - là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Minh

Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 39/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2024; về tranh chấp: “ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXX-ST ngày 10 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Phượng L, sinh năm 1998. Địa chỉ: tổ D, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (xin vắng mặt).
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1990. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/3/2024 nguyên đơn chị Trần Thị Phượng L trình bày: Chị và anh Nguyễn Hoàng N cưới nhau vào năm 2019, hôn nhân do hai bên quen biết tìm hiểu nhau trước và được sự chấp thuận của gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương; đăng ký kết hôn ngày 24/4/2020 tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. Sau khi cưới vợ chồng sống ở ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long, hạnh phúc được khoảng 04 tháng. Có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng H, sinh ngày 21/9/2020, hiện sống với chị. Quá trình chung sống vợ chồng không tạo lập tài sản chung; vợ chồng không thiếu nợ ai và cũng không cho ai mượn nợ. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, tuy nhiên về sau vợ chồng thường hay phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến thường gây gỗ với nhau. Vợ chồng đã nhiều lần cố gắng khuyên bảo lẫn nhau thay đổi để hàn gắn tình cảm nhưng đều không thành từ đó đời sống vợ chồng không có hạnh phúc; ly thân từ tháng 7/2023 đến nay. Hiện mỗi người đều có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn anh Nguyễn Hoàng N. Về con chung: Nguyễn Hoàng H, sinh ngày 21/9/2020, chị yêu cầu giải quyết cho chị được quyền nuôi con, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Về quan hệ tài sản: không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, chị không còn yêu cầu nào khác.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 10/5/2024 bị đơn anh Nguyễn Hoàng N trình bày: Anh và chị Trần Thị Phượng L cưới nhau vào năm 2019. Hôn nhân do quen biết tìm hiểu nhau trước, sau đó được sự chấp thuận của gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục tại địa phương; đăng ký kết hôn ngày 24/4/2020 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. Sau khi cưới, vợ chồng về sống tại ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long; có 01 con chung: Nguyễn Hoàng H, sinh ngày 21/9/2020 hiện chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Trong thời gian sống chung, vợ chồng không tạo lập được tài sản chung gì; vợ chồng không thiếu nợ ai và cũng không cho ai mượn nợ. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do kinh tế gia đình khó khăn dẫn đến bất đồng quan điểm trong cuộc sống từ đó vợ chồng sống không hạnh phúc; L bỏ về nhà cha mẹ ruột ở từ tháng 9/2023 đến nay. Theo yêu cầu khởi kiện của chị L; anh có ý kiến như sau: Về quan hệ hôn nhân: anh đồng ý ly hôn chị Trần Thị Phượng L; Về con chung: Nguyễn Hoàng H, sinh ngày 21/9/2020, anh đồng ý giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con; Về quan hệ tài sản (tài sản chung, nợ chung): không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra anh không yêu cầu nào khác.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

+ Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 68, 97, 98, 147, 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Phượng L. Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị Phượng L được ly hôn anh Nguyễn Hoàng N. Về con chung: giao Nguyễn Hoàng H, sinh ngày 21/9/2020 cho chị L nuôi dưỡng; Về án phí buộc chị L phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    1. Chị Trần Thị Phượng L có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Hoàng N, anh N có nơi cư trú thuộc huyện B nên tranh chấp và quan hệ pháp luật thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
    2. Nguyên đơn chị Trần Thị Phượng L và bị đơn anh Nguyễn Hoàng N xin vắng mặt tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
  2. Về nội dung:
    1. Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị Phượng L và anh Nguyễn Hoàng N tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận.

    Xét yêu cầu xin ly hôn của chị L là có cơ sở. Bởi lẽ quá trình chung sống anh chị bất đồng quan điểm với nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không còn hạnh phúc. Anh chị không còn sống chung từ tháng 9/2023 đến nay; từ lâu đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng phải thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Hiện mỗi người đều có cuộc sống riêng không còn quan tâm đến nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị L xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh N, chị yêu cầu được ly hôn; anh N đồng ý ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị L được ly hôn anh N là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

    1. Về con chung: Nguyễn Hoàng H, sinh ngày 21/9/2020.

    Chị L yêu cầu được quyền nuôi con. Xét thấy từ khi chị L và anh N không còn sống chung, chị L là người trực tiếp nuôi con, cuộc sống của con vẫn được đảm bảo; anh N đồng ý giao con cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó Hội đồng xét xử xem xét giao con cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

    Theo quy định của pháp luật thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, tuy nhiên chị L không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

    1. Về chia tài sản: chị Trần Thị Phượng L và anh Nguyễn Hoàng N không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  3. Về án phí: chị Trần Thị Phượng L phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
  4. Xét đề nghị của Kiểm sát viên có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 9, 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Phượng L và anh Nguyễn Hoàng N.
  2. Về con chung:
    1. Giao con chung Nguyễn Hoàng Hiếu, sinh ngày 21/9/2020 cho chị Trần Thị Phượng L trực tiếp nuôi dưỡng.
    2. Về cấp dưỡng nuôi con: chị L không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

    Anh Nguyễn Hoàng N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình; đồng thời người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  3. Về chia tài sản: chị Trần Thị Phượng L và anh Nguyễn Hoàng N không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: chị Trần Thị Phượng L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do chị L nộp theo biên lai thu số 0013369 ngày 12/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Tân. Vậy chị L đã nộp đủ.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND T. Vĩnh Long;
  • - VKSND H. Bình Tân;
  • - Chi cục THADS H. Bình Tân;
  • - UBND xã Tân Thành, Bình Tân, Vĩnh Long;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phan Kim Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN - TỈNH VĨNH LONG về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 40/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN - TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị Trần Thị Phượng L yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn anh Nguyễn Hoàng N và được quyền nuôi con chung.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger