Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 40/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30 tháng 08 năm 2024

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Hồng Hải

Ông Trần Trung Nam

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Phan Khánh Vi - Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 08 năm 2024 tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 186/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 05 năm 2024 về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 186/2024/QĐXX-ST ngày 26 tháng 07 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 186/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 08 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm: 1983; Nơi ĐKNKTT: K T, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở: thôn Đ, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. (Có mặt)

* Bị đơn: Ông Trần Ngọc Q, sinh năm: 1980; Địa chỉ: K T, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị P và ông Trần Ngọc Q kết hôn với nhau năm 2005, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T (nay là phường A), quận T, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, ông Q không quan tâm, lo lắng chăm sóc cho vợ con và có hành vi bạo lực gia đình cùng nhiều thói hư tật xấu gây ra nợ nần, phá tán tài sản. Bà P đã vì con nhiều lần khuyên nhủ nhưng không có kết quả. Đến khi bà P đang mang thai cháu thứ hai vào năm 2012 thì vợ chồng phải bán nhà trả nợ cho ông Q. Sau đó vợ chồng về phường X sinh sống cùng gia đình ông Q. Đến năm 2020 thì bà P về nhà mẹ đẻ tại thôn Đ, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm, lo lắng, chăm sóc cho nhau. Do mâu thuẫn đã quá trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà P yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với ông Trần Ngọc Q.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Nguyễn Thị P và ông Trần Ngọc Q có 02 con chung Trần Nguyễn Phương T- sinh ngày 05/10/2005 và Trần Nguyễn Minh T1- sinh ngày 05/11/2012. Ly hôn bà P có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Nguyễn Minh T1 và không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với con chung Trần Nguyễn Phương T đã thành niên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

* Bị đơn là ông Trần Ngọc Q không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P cũng như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 24/06/2024 và ngày 10/07/2024 mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

* Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê:

Về thủ tục tố tụng: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn đã được đảm bảo thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; riêng bị đơn là ông Trần Ngọc Q vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình tố tụng mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên phải chịu hậu quả pháp lý về sự vắng mặt của mình.

Về nội dung:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 51, 56 luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị P xin ly hôn với ông Trần Ngọc Q.
  • - Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị P, giao con chung Trần Nguyễn Minh T1 cho bà P nuôi dưỡng, ông Trần Ngọc Q không cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với con chung Trần Nguyễn Phương T đã thành niên nên Viện kiểm sát không đề cập đến.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị P xác nhận không có nên Viện kiểm sát không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Nguyễn Thị P khởi kiện “Ly hôn” đối với bị đơn là ông Trần Ngọc Q có địa chỉ cư trú tại phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại các Điều 208; 209; 210; 211 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn không xuất trình thêm chứng cứ mới.

Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn ông Trần Ngọc Q vắng mặt tại phiên toà không có lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị P và ông Trần Ngọc Q có thời gian tìm hiểu và tự nguyện kết hôn vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T (nay là phường A), quận T, thành phố Đà Nẵng. Việc kết hôn giữa bà P và ông Q là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, lừa dối và không trái với quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị P và ông Trần Ngọc Q là hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bà Nguyễn Thị P xác nhận trong quá trình chung sống giữa hai vợ chồng có phát sinh nhiều mâu thuẫn. Theo bà P thì nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Ông Q có hành vi bạo lực gia đình và không quan tâm, lo lắng chăm sóc cho vợ con. Hiện nay vợ chồng đang sống ly thân. Tại phiên tòa, bà P khẳng định đã hết tình cảm với ông Trần Ngọc Q nên mong muốn được ly hôn.

Xét qua xác minh, địa phương nơi cư trú không nắm được nội dung mâu thuẫn giữa vợ chồng bà P và ông Q (vợ chồng không xảy ra to tiếng gì ảnh hưởng đến trật tự tại địa phương) nhưng xác nhận thực tế vợ chồng không còn chung sống với nhau (từ năm 2020, bà P cùng con đã về Quảng Nam sinh sống). Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn ông Trần Ngọc Q đều không có mặt để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của bà P. Điều này thể hiện thái độ thiếu thiện chí trong việc hàn gắn hôn nhân, đồng thời chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà P, ông Q đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được. Việc bà P yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung : Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay bà Nguyễn Thị P xác nhận có 02 con chung Trần Nguyễn Phương T- sinh ngày 05/10/2005 và Trần Nguyễn Minh T1- sinh ngày 05/11/2012. Ông Trần Ngọc Q không có ý kiến phản đối nên căn cứ vào Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự công nhận việc bà P và ông Q có con chung là sự thật.

Ly hôn, bà P mong muốn được nuôi con chung Trần Nguyễn Minh T1, không yêu cầu ông Trần Ngọc Q cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên sau ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Ngọc Q không trình bày ý kiến về vấn đề con chung. Từ khi bà P và ông Q mâu thuẫn cho đến nay bà P là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, bản thân bà cũng có công việc cho thu nhập ổn định, cháu T1 có nguyện vọng được ở với mẹ. Do đó, việc giao con chung Trần Nguyễn Minh T1- sinh ngày 05/11/2012 cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng sẽ đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên yêu cầu được nuôi con chung của bà P được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con thì tại phiên toà hôm nay bà Nguyễn Thị P không yêu cầu ông Trần Ngọc Q phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với con chung Trần Nguyễn Phương T đã thành niên nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị P xác nhận không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Ngọc Q không có ý kiến gì đối với các vấn đề tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Nếu sau này bà P, ông Q có tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.

[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị P phải nộp 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: - Các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị P.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị P được ly hôn với ông Trần Ngọc Q.

- Về con chung: Giao con chung Trần Nguyễn Minh T1- sinh ngày 05/11/2012 cho bà Nguyễn Thị P trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Trần Ngọc Q không cấp dưỡng nuôi con chung.

Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Đối với con chung Trần Nguyễn Phương T đã thành niên nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị P xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

2. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) bà Nguyễn Thị P phải nộp, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0001238 ngày 23/05/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Bà Nguyễn Thị P đã nộp đủ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay.

Riêng bị đơn ông Trần Ngọc Q vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện Kiểm sát Thanh Khê;
  • - Chi cục Thi hành án Thanh Khê;
  • - UBND phường An Khê,
  • quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng;
  • (Giấy CNKH số 112 ngày 27/06/2019)
  • - Hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thanh Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 40/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị P khởi kiện xin được ly hôn với ông Trần Ngọc Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger