|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2024/HS-ST
Ngày 30/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lục Viết Sang
- Bà Lục Thị Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Hoa - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bộ - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đào Văn H - sinh năm 1991;
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12;
Nghề nghiệp: Tự do; Họ và tên bố: Đào Văn T- sinh năm 1956; Họ và tên mẹ: Đặng Thị N- sinh năm 1962; Vợ: Hoàng Thị L- sinh năm 1998 (đã ly hôn); Con: Bị cáo có 01 con, sinh năm 2020; Gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo không bị bị tạm giữ, tạm giam, được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt tại phiên tòa).
2. Bị hại:
- Anh Nguyễn Ngọc Sang G- sinh năm 1997 (có mặt)
Nơi cư trú: tổ dân phố Hòa Bình, thị trấn Bố Hạ, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Bùi Xuân H1- sinh năm 1984 (vắng mặt)
Nơi cư trú: thôn Phượng Hoàng, xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, Bắc Giang
4. Người làm chứng:
- Anh Tạ Văn Q- sinh năm 1987 (vắng mặt)
Nơi cư trú: tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
- Anh Hoàng Thanh S- sinh năm 1994 (vắng mặt)
Nơi cư trú: tổ dân phố C, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đào Văn H, sinh năm 1991 ở tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang có mối quan hệ quen biết từ trước với anh Nguyễn Ngọc Sang G, sinh năm 1997 ở tổ dân phố H, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (đều là thợ chụp ảnh) và biết anh G có 01 bộ máy ảnh nhãn hiệu NIKON Z62II (gồm máy ảnh và ống kính máy ảnh) nên H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt bộ máy ảnh này để mang đi cầm cố lấy tiền chi tiêu, trả nợ. Tối ngày 07/12/2023, H sử dụng tài khoản zalo tên “Tốp Dio” đăng ký bằng số điện thoại 0819.199.xxx nhắn tin đến tài khoản zalo “N” của anh G, nói dối anh G là mượn máy ảnh để sáng ngày hôm sau chụp ảnh cho khách. Do tin tưởng trước đây H đã từng mượn máy ảnh của anh G đi làm, những lần mượn trước H đều trả tiền công đầy đủ nên anh G đồng ý cho H mượn. Khoảng 09 giờ ngày 08/12/2023, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda wave biển kiểm soát 98C1- 165.62 một mình đi đến nhà anh G mượn 01 máy ảnh nhãn hiệu NIKON Z6II, 01 lens máy ảnh nhãn hiệu NIKON 35/1.8s và 01 lens máy ảnh nhãn hiệu NIKON 85/1.8s của anh G. Sau khi mượn được tài sản của anh G, H nhắn tin qua mạng xã hội Facebook Messenger có tên “Tốp Dio” của H đến tài khoản mạng xã hội Facebook M có tên “Xuân Hiền” của anh Bùi Xuân H1, sinh năm 1984 ở thôn P, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang muốn cầm cố toàn bộ số tài sản mà H vừa mượn được của anh G, anh H1 đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe mô tô 98C1- 165.62 một mình mang theo toàn bộ số tài sản đã mượn của anh G đến cầm cố cho anh H1 được số tiền 40.000.000đồng. Đến buổi tối cùng ngày 08/12/2023, H sử dụng tài khoản Ngân hàng M1 số 0819.199.190 của H chuyển số tiền 500.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng B số 21610000309310 của anh Nguyễn Ngọc Sang G và nói dối anh G đây là tiền công H mượn máy của G (thời gian trước khi mượn máy ảnh của anh G đi chụp ảnh thì H vẫn trả tiền công) để tạo lòng tin với anh G. Sau đó, anh G đòi tài sản cho H mượn nhưng do H không có tiền chuộc máy ảnh và lens máy ảnh nên H đã nói dối với anh G là máy mang đi chụp ảnh chưa xong và cho H mượn thêm mấy ngày nữa rồi trả. Để anh G không nghi ngờ, không biết việc H đã mang tài sản của anh G đi cầm cố, đến ngày 28/12/2023 H tiếp tục sử dụng số tài khoản Ngân hàng M1 số 0819.199.190 của H chuyển số tiền 1.000.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng B số 21610000309310 của anh Nguyễn Ngọc Sang G và nói dối anh G là máy ảnh vẫn đang đi chụp chưa lấy về được. Sau đó, anh G nhiều lần gọi điện, nhắn tin đòi máy ảnh và lens máy ảnh, lúc này H đã trốn tránh không nghe máy và cũng không nhắn tin trả lời anh G. Ngày 19/02/2024 anh Tạ Văn Q, sinh năm 1987 ở tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (là bạn của anh H1, anh G) được anh H1 cho biết có người ở địa bàn thị trấn B, huyện Y cầm cố máy ảnh, lens máy ảnh tại nhà anh H1 và gửi hình ảnh tài sản cầm cố cho anh Q xem. Sau đó, anh Q nhắn tin, gửi hình ảnh 01 máy ảnh, 02 lens máy ảnh qua ứng dụng Messenger cho anh G và hỏi có biết là của ai không thì anh G nhận ra đó là tài sản của anh G đã cho anh H mượn vào ngày 08/12/2023. Do vậy, anh G đã nhiều lần liên lạc với H yêu cầu chuộc tài sản về trả cho anh G nhưng H vẫn tiếp tục hứa hẹn và không trả tài sản cho anh G. Số tiền cầm cố tài sản của anh G có được, H sử dụng 10.000.000 đồng chi tiêu cá nhân, 30.000.000 đồng H trả nợ trực tiếp cho các thợ chụp ảnh mà H đã thuê. Ngày 11/3/2024, anh Nguyễn Ngọc Sang G đã gửi đơn trình báo đến Công an thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Ngày 12/3/2024, anh Bùi Xuân H1 tự nguyện giao nộp cho Công an Thị trấn B: 01 máy ảnh nhãn hiệu NIKON Z6II, 01 L (ống kính) nhãn hiệu NIKON 35/1.8s, 01 Lens (ống kính) nhãn hiệu NIKON 85/1.8s.
Ngày 22/3/2024, Đào Văn H tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu NOKIA 2.1, màu xanh - đen, kiểu máy TA-1080, số IMEI1: 359013096548359, số IMEI2: 359013096628359, trong máy gắn 02 (hai) thẻ sim điện thoại, trong đó 01 (một) sim trên in dãy số: 8984048000910114521 và 01 (một) sim trên in dãy số: 8984048000927568368, điện thoại cũ, đã qua sử dụng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 08/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y kết luận: Giá trị của tài sản yêu cầu định giá là: 41.000.000 đồng. Trong đó: 01 (một) chiếc máy ảnh nhãn hiệu NIKON Z6II có giá trị 25.000.000 đồng; 01 (một) Lens (ống kính) nhãn hiệu NIKON 35/1.8s, có giá trị 8.000.000 đồng; 01 (một) Lens (ống kính) nhãn hiệu NIKON 85/1.8s, có giá trị 8.000.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 897/KL-KTHS ngày 23/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- Trích xuất và khôi phục được 105 dữ liệu tin nhắn của ứng dụng Facebook Messenger, không tìm thấy dữ liệu tin nhắn của ứng dụng Zalo thời gian từ ngày 01/12/2023 đến hết ngày 15/12/2023 lưu trữ trong 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 2.1, màu xanh - đen gửi giám định.
- Trích xuất được 02 dữ liệu thông tin tài khoản của ứng dụng Z và 19 dữ liệu thông tin tài khoản của ứng dụng Facebook Messenger đăng nhập trên 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 2.1, màu xanh-đen gửi giám định (chi tiết dữ liệu được lưu trong thư mục có tên “Du lieu”, tổng dung lượng 79,1KB, được lưu trong 01 (một) đĩa CD-R nhãn hiệu Maxell, màu vàng).
Trên cơ sở nội dung vụ án tại bản cáo trạng số 37/CT-VKS-YT ngày 31/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang để xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã có hành vi như cáo trạng truy tố và nội dung vụ án đã tóm tắt nêu trên. Bị cáo rất ăn năn về sự việc đã xảy ra và xin cho bị cáo hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự bị cáo Đào Văn H đã bồi thường cho anh Bùi Xuân H1 số tiền 40.000.000 đồng, đến nay anh H1 không yêu cầu gì về việc bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho H. Anh Nguyễn Ngọc Sang G không có yêu cầu gì về việc bồi thường thiệt hại. Đào Văn H không yêu cầu, đề nghị gì đối với số tiền 1.500.000 đồng đã chuyển cho anh G.
Bị hại là anh Nguyễn Ngọc S1 G trình bày anh và bị cáo H có quen nhau qua công việc, bị cáo có nhắn tin nói dối anh G là mượn máy ảnh để hôm sau chụp ảnh cho khách. Do tin tưởng trước đây H đã từng mượn máy ảnh của anh G đi làm, những lần mượn trước H đều trả tiền công đầy đủ nên anh G đồng ý cho H mượn. Sau đó anh đã nhiều lần gọi điện, nhắn tin đòi máy ảnh thì H đã trốn tránh không nghe máy và cũng không nhắn tin trả lời. Ngày 19/02/2024 anh Tạ Văn Q là bạn của anh G gửi hình ảnh tài sản anh mới biết H đã cấm cố máy anh của anh. Đến nay anh đã nhận lại máy ảnh và không có yêu cầu gì về việc bồi thường thiệt hại gì.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố bị cáo. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Đào Văn H từ 02 năm đến 02 năm 04 tháng về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 04 năm 08 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND thị trấn B, huyện Y giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Ngoài ra còn đề nghị về xử lý vật chứng và tiền án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an H2; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, những người tham gia tố tụng và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, tại Cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, kết quả sao kê tài khoản ngân hàng và các tài liệu, đồ vật đã thu giữ, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa đã xác định được: Khoảng 09 giờ ngày 08/12/2023, tại nhà anh Nguyễn Ngọc Sang G, sinh năm 1997 ở tổ dân phố H, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Đào Văn H, sinh năm 1991 ở tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt 01 (một) chiếc máy ảnh nhãn hiệu NIKON Z6II có giá trị 25.000.000đồng; 01 (một) Lens (ống kính) nhãn hiệu NIKON 35/1.8s, có giá trị 8.000.000 đồng; 01 (một) Lens (ống kính) nhãn hiệu NIKON 85/1.8s, có giá trị 8.000.000đồng, tổng giá trị tài sản là 41.000.000 đồng của anh Nguyễn Ngọc S1 G mang đi cầm cố cho anh Bùi Xuân H1, sinh năm 1984 ở thôn P, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang được số tiền 40.000.000 đồng.
[3] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Khi phạm tội bị cáo là người đã đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Nguyên nhân bị cáo phạm tội chỉ vì muốn có tiền ăn tiêu cá nhân và muốn có tiền trả nợ nên đã dùng thủ đoạn gian dối để tạo niềm tin với bị hại nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của bị hại. Vì vậy, cáo trạng số 37/CT-VKS-YT ngày 31/7/2024 của Viện KSND huyện Y truy tố bị cáo Đào Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- - Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
- - Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan số tiền 40.000.000 đồng; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo có bố đẻ là Đào Văn T được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng Nhì; Bà nội là Bùi Thị D được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Bùi Xuân H1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ những phân tích, đánh giá về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần thiết phải cách ly bị cáo với đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo và thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật cũng đảm bảo răn đe, phòng ngừa tội phạm để cho thấy chính sách nhân đạo, khoan hồng đối với người phạm tội và tạo cơ hội cho bị cáo sửa chữa, cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội cũng phù hợp Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 BLHS như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.
- - Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 174 BLHS.
[4]. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Đào Văn H đã bồi thường cho anh Bùi Xuân H1 số tiền 40.000.000 đồng, đến nay anh H1 không yêu cầu gì về việc bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho H. Anh Nguyễn Ngọc Sang G không có yêu cầu gì về việc bồi thường thiệt hại. Đào Văn H không yêu cầu, đề nghị gì đối với số tiền 1.500.000 đồng đã chuyển cho anh G nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda wave biển kiểm soát 98C1- 165.62 là của anh Hoàng Thanh S- sinh năm 1994 ở tổ dân phố C, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (là bạn của H) cho H mượn để làm phương tiện đi lại, anh S không biết H sử dụng xe mô tô này vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra Công an huyện H2 không có căn cứ xem xét xử lý đối với anh S và không thu giữ chiếc xe mô tô này là có cơ sở.
Đối với anh Bùi Xuân H1 nhận cầm cố máy ảnh và lens máy ảnh của Đào Văn H nhưng anh H1 không biết số tài sản này do H phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra Công an huyện H2 không có căn cứ để xem xét xử lý đối với anh H1. Tuy nhiên, anh H1 không đăng ký hoạt động kinh doanh dịch vụ cầm đồ theo quy định nhưng vẫn nhận cầm cố tài sản của Đào Văn H, đối với hành vi này Cơ quan điều tra Công an huyện H2 đã có văn bản gửi đến Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang đề nghị tiếp tục xác minh và đề xuất xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật là có căn cứ.
[5]. Về vật chứng: Đối với 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu NOKIA 2.1, màu xanh - đen là tài sản của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội vẫn còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[6].Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
- - Bị cáo Đào Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[7]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
- Xử phạt bị cáo Đào Văn H 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đào Văn H cho UBND thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự;
- Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 2.1, màu xanh - đen, kiểu máy TA-1080, số IMEI1: 359013096548359, số IMEI2: 359013096628359, trong máy gắn 02 (hai) thẻ sim điện thoại, trong đó 01 (một) sim trên in dãy số: 8984048000910114521 và 01 (một) sim trên in dãy số: 8984048000927568368.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Buộc bị cáo Đào Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Duyên |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
Lục Viết Sang |
Lục Thị Lan |
Nguyễn Thị Duyên |
Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 40/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào Văn Hà lừa đảo chiếm đoạt tài sản
