TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2024/HS-ST Ngày 30-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Hoàng Thế Khuynh.
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Vy Thị Thu Trang;
Bà Phùng Thị Thu
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Đông - Thư ký Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến tại 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại phòng xét xử Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn gồm: Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, thư ký Tòa án; điểm cầu thành phần tại nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn gồm có: Bị cáo, Kiểm sát viên, Thư ký, cán bộ chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ; đối với vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Văn T, sinh ngày 21 tháng 11 năm 1991, tại huyện H, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn Đ, con bà Lương Thị V; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: chưa bị xét xử, chưa bị xử phạt hành chính; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C từ ngày 19 tháng 6 năm 2024 đến nay; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 19/6/2024, Tổ công tác phòng chống ma túy Công an huyện C phối hợp với Công an xã V, huyện C đang làm nhiệm vụ tại thôn P, xã V, huyện C phát hiện Trần Văn T có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tiến hành kiểm tra, phát hiện và thu giữ trong túi áo đằng trước bên trái đang mặc của Trần Văn T có 01 (một) gói giấy nhiều màu sắc, có chữ, bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy; 01 (một) xi lanh loại 03ml/cc bằng nhựa, đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng, có gắn sim số 0337.335.376. Trần Văn T khai nhận chất bột màu trắng có trong gói giấy trên là ma túy Heroin do Trần Văn T mua tại khu vực Chợ B1 thuộc xã Y, huyện V, tỉnh Lạng Sơn với một người đàn ông không quen biết với giá 300.000 đồng để đem về sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đưa Trần Văn T về Công an xã V lập biên bản sự việc và niêm phong tang vật theo quy định. Tiến hành kiểm tra nhanh chất ma túy trong cơ thể của Trần Văn T cho kết quả dương tính với chất ma túy.
Tại bản Kết luận giám định số 709/KL-KTHS ngày 21/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Chất bột màu trắng có trong 01 (một) gói giấy (có nhiều màu sắc, có chữ) gửi giám định là chất ma túy Heroin, có khối lượng 0,158 gam (đã trừ bì).
Trần Văn T khai nhận: Bản thân là người nghiện ma túy H, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 14 giờ ngày 19/6/2024 Trần Văn T đi bộ từ nhà tại thôn B, xã H, huyện H sang thôn M, xã V, huyện C mục đích để đến khu vực Chợ B thuộc huyện V tìm mua ma túy. Khi đi đến thôn M, xã V, Trần Văn T đi nhờ xe mô tô của người đi đường (không quen biết) đến thôn P, xã V, sau đó tiếp tục đi nhờ xe mô tô của một người đi đường khác (không quen biết) đến ngã ba T, xã T rồi đón xe ô tô khách đến khu vực Chợ B thuộc huyện V. Trần Văn T gặp một người đàn ông (không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ), qua nói chuyện biết Trần Văn T đang tìm mua ma túy, thì người này hỏi muốn mua bao nhiêu, Trần Văn T nói mua 300.000 đồng rồi đưa tiền cho người đàn ông, người này cầm tiền rồi đi đâu không rõ, khoảng 20 phút sau người này quay lại đưa cho Trần Văn T 01 (một) gói ma túy bọc bằng giấy nhiều màu sắc. Sau khi mua được ma túy, Trần Văn T tìm chỗ vắng người lấy một phần ma túy ra tự sử dụng bằng hình thức chích. Số ma túy còn lại Trần Văn T cất trong túi áo đằng trước bên trái đang mặc rồi đón xe ô tô khách đến ngã ba T, xã T, sau đó xuống xe rồi đi nhờ xe mô tô người qua đường (không quen biết) đến xã V. Khi đi đến thôn P, xã V, Trần Văn T xuống xe, đang đi bộ thì bị Công an huyện C kiểm tra, phát hiện và thu giữ gói ma túy.
Vật chứng gồm:
- 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có: 01 (một) gói giấy đựng 0,137 gam chất ma túy Heroin và vỏ bao gói (cũ);
- 01 (một) xi lanh loại 03ml/cc, bằng nhựa, đã qua sử dụng;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, đã qua sử dụng, gắn sim có số: 0337.335.376.
Các vật chứng được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện C xử lý theo quy định.
Cáo trạng số: 43/CT-VKS ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố: Bị cáo Trần Văn T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn T đã khai rõ toàn bộ hành vi vi phạm như đã khai tại Cơ quan điều tra.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung Bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo Trần Văn T và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, đánh giá về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng các khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, tiêu hủy 01 xi lanh; trả lại cho bị cáo Trần Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, đã qua sử dụng, có gắn sim.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Văn T.
Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng bị cáo Trần Văn T xin Hội đồng xét xử cho hưởng khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo Trần Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản sự việc và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 19/6/2024 tại thôn P, xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Trần Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,158 gam chất ma túy Heroin, mục đích để sử dụng cá nhân.
Về nguồn gốc số ma túy xác định theo lời khai của bị cáo Trần Văn T, ngày 19/6/2024 Trần Văn T đến khu vực chợ B1, xã Y, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, mua ma túy với một người đàn ông không quen biết, mục đích mua về sử dụng. Ngoài lời khai của bị cáo, không có tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh nguồn gốc số ma túy nên không có cơ sở để kết luận về nguồn gốc số ma túy và người bán ma túy cho bị cáo.
Bị cáo Trần Văn T là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Do vậy có đủ khả năng để nhận thức việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích có ma tuý để sử dụng, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Bị cáo Trần Văn T tàng trữ trái phép 0,158 gam chất ma túy Heroin. Vậy đã có đủ các căn cứ để kết luận bị cáo Trần Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số: 43/CT-VKSCL ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý. Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Chất ma tuý Heroine mà bị cáo tàng trữ là một trong các chất gây nghiện được quy định trong danh mục các chất ma tuý do Chính phủ ban hành. Các hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm (Quy định tại Điều 5 Luật Phòng chống ma tuý). Tệ nạn ma tuý là hiểm hoạ lớn cho toàn xã hội, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống con người, phá hoại hạnh phúc gia đình vv... Để góp phần đấu tranh phòng và chống tội phạm, giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội, phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo nhằm trừng trị, răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời tăng cường giáo dục và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.
Về nhân thân: bị cáo Trần Văn T chưa bị xét xử, chưa bị xử lý hành chính là người sử dụng trái phép chất ma túy nên là người có nhân thân không tốt. Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng bị cáo không có.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo Trần Văn T khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật. Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù cho bị cáo theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự. Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản để đảm bảo thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Đối với phong bì niêm phong chứa số ma túy còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành; xi lanh nhựa, vỏ bao gói, là vật không còn giá trị sử dụng do vậy cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, đã qua sử dụng, có gắn sim là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, tuy nhiên bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc diện hộ nghèo, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Văn T.
Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị về tội danh, hình phạt và về xử lý vật chứng, án phí đối với bị cáo Trần Văn T là có căn cứ.
Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các khoản 1, 2 Điều 47; các Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào các điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 260, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Về tội danh: tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về hình phạt: xử phạt bị cáo Trần Văn T 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 19 tháng 6 năm 2024.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì có chữ viết tay họ tên Trần Văn T (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh T1, đại diện cơ quan trưng cầu và các hình dấu của Phòng K tại phần giáp lai mới. Bên trong có: 01 (một) gói giấy đựng 0,137 gam chất ma túy Heroin và vỏ gói giấy bạc (cũ); 01 (một) xi lanh loại 03ml/cc, bằng nhựa đã qua sử dụng.
Trả lại cho Trần Văn T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, đã qua sử dụng, gắn sim có số 0337.335.376.
(Vật chứng hiện đang lưu giữ, bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Lạng Sơn ngày 14 tháng 8 năm 2024).
Về án phí: Miễn án phí hính sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Văn T.
Về quyền kháng cáo: bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Hoàng Thế Khuynh |
Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn về hình sự sơ thẩm về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 40/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 19/6/2024, Tổ công tác phòng chống ma túy Công an huyện C phối hợp với Công an xã V, huyện C đang làm nhiệm vụ tại thôn P, xã V, huyện C phát hiện Trần Văn T có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tiến hành kiểm tra, phát hiện và thu giữ trong túi áo đằng trước bên trái đang mặc của Trần Văn T có 01 (một) gói giấy nhiều màu sắc, có chữ, bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy; 01 (một) xi lanh loại 03ml/cc bằng nhựa, đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng, có gắn sim số 0337.335.376. Trần Văn T khai nhận chất bột màu trắng có trong gói giấy trên là ma túy Heroin do Trần Văn T mua tại khu vực Chợ B1 thuộc xã Y, huyện V, tỉnh Lạng Sơn với một người đàn ông không quen biết với giá 300.000 đồng để đem về sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đưa Trần Văn T về Công an xã V lập biên bản sự việc và niêm phong tang vật theo quy định. Tiến hành kiểm tra nhanh chất ma túy trong cơ thể của Trần Văn T cho kết quả dương tính với chất ma túy.
