Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH BA

TỈNH PHÚ THỌ

Bản số: 40/2024/HS-ST

Ngày 30/7/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phùng Văn Thị
  2. Bà Vương Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba tham gia phiên tòa: Ông Ngô Xuân Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Đinh Xuân H (tên gọi khác: Không) - sinh ngày 31/01/2004 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu Đ, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đinh Xuân C, sinh năm 1981 và bà Hà Bích P, sinh năm 1985; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.

  2. Phùng Tuấn K (tên gọi khác: Không) - sinh ngày 22/02/2005 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phùng Văn T, sinh năm 1965 và bà Ngô Thị Bích H1, sinh năm 1967; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Ngân hàng TMCP Đ4 – Chi nhánh P3. Vắng mặt.
  • Địa chỉ: Số nhà A, Đường H, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
  • Ngân hàng TMCP N3 – Chi nhánh P3. Vắng mặt.
  • Địa chỉ: Số A, đường T, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 25/6/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ nhận được tin báo về tội phạm của Công an xã M, huyện T, theo tố giác của quần chúng Nhân dân xã M, với nội dung: Trên địa bàn, nổi lên trường hợp Đinh Xuân H, sinh năm 2004, trú tại khu Đ, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ, không có nghề nghiệp ổn định, có biểu hiện bất minh về kinh tế. Qua thông tin của quần chúng Nhân dân cho biết: Thời gian từ tháng 10/2022 đến nay H cùng với một số người đã dụ dỗ nhiều thanh niên trên địa bàn mở tài khoản ngân hàng để bán thông tin tài khoản, lấy thông tin tài khoản, được hưởng lợi bằng tiền. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiến hành điều tra làm rõ nội dung cụ thể như sau:

Vào khoảng tháng 10/2022, Đinh Xuân H, sinh năm 2004, trú tại khu Đ, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ, sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 màu xanh, gắn 02 sim số 0835023788 và 0852240841 đăng nhập vào tài khoản Facebook của mình là “Đinh Hoàng” để lướt bản tin và nói chuyện với bạn bè. Quá trình lướt bản tin, H thấy một số quảng cáo liên quan đến việc mở tài khoản Ngân hàng. Do tò mò muốn tìm hiểu nên H có ấn vào các quảng cáo này thì bị chuyển sang một trang mạng khác, tại trang mạng mới có các đường link dẫn đến các nhóm Facebook, trong nhóm facebook có các đoạt chat của các tài khoản Facebook với nhau. H đọc các đoạn chat này thấy nội dung chủ yếu nói chuyện về việc lập, mua, bán tài khoản ngân hàng và được hưởng lợi phần trăm hoa hồng. Thời điểm này do không có việc làm ổn định, muốn có tiền chi tiêu cá nhân nên H đã tự mình mở 11 tài khoản ngân hàng khác nhau (02 tài khoản ngân hàng V1, 01 tài khoản ngân hàng T6, 03 tài khoản ngân hàng S1, 01 tài khoản ngân hàng B, 01 tài khoản ngân hàng M1, 03 tài khoản ngân hàng A2), sau đó bán cho một số người không quen biết thông qua mạng xã hội Zalo, Facebook với giá giao động từ khoảng 500.000 đồng đến 600.000 đồng/01 tài khoản ngân hàng, được số tiền khoảng 5.500.000 đồng. Thời gian sau H quen biết với một số người trên mạng xã hội, tên F, Z và T1 là “Chuyên Visa”; “Bối vàng”; “P”; "Miu"; "D"; "Luxubu”; “C1 thần” “LHS” (H cũng chỉ biết tên F, Z, T1 chứ không biết tên, tuổi, địa chỉ của số người này ở đâu). Các tài khoản nêu trên thường xuyên đặt vấn đề với H về việc muốn mua tài khoản ngân hàng với giá từ 500.000₫ đến 600.000đ/01 tài khoản, tuy nhiên thời điểm này H chưa có tài khoản ngân hàng để bán. Đến khoảng tháng 12/2022, H có nghe nói về việc Phùng Tuấn K, sinh năm 2005, trú tại khu I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ là người có nhiều mối quan hệ xã hội và có nhiều bạn bè, vì vậy H thông qua bạn của mình (không nhớ là ai) để xin tài khoản Facebook của K, sau đó H sử dụng ứng dụng Messenger từ tài khoản Facebook của mình là “Đinh H” nhắn tin đến tài khoản Facebook của K là “Tuấn Kiệt” để đặt vấn đề với K về việc xem có bạn bè nào lập tài khoản ngân hàng rồi bán lại cho H, sau đó H sẽ trả cho K số tiền từ 250.000₫ đến 400.000đ/01 tài khoản ngân hàng, còn K trả cho những người mở tài khoản ngân hàng để bán cho K bao nhiêu thì tùy, K đồng ý. Do K chưa biết cách mở tài khoản ngân hàng nên Đinh Xuân H có nhờ Đàm Ngọc H2, sinh năm 2003, trú tại khu A, xã M, huyện T hướng dẫn Kiệt.

Về phương thức thực hiện như sau: K sẽ tìm người có nhu cầu bán thông tin tài khoản ngân hàng (thông qua các mối quan hệ bạn bè của K), sau đó dẫn những người này đến làm việc với nhân viên ngân hàng rồi đăng ký thủ tục, làm theo hướng dẫn của nhân viên ngân hàng để lập tài khoản ngân hàng và đăng ký dịch vụ internetbanking của ngân hàng. Sau đó, tải ứng dụng internetbanking của ngân hàng đó về điện thoại để đăng ký tài khoản dùng để đăng nhập gồm: số tài khoản, mật khẩu đăng nhập trên ứng dụng ngân hàng đó. Những người này yêu cầu không phát hành thẻ ngân hàng (thẻ rút tiền). Sau khi những người này làm xong thì K thông báo cho H để H thanh toán tiền cho K từ 250.000 đồng đến 400.000 đồng/01 tài khoản (Thanh toán bằng hình thức chuyển khoản ngân hàng thông qua một trong số các tài khoản ngân hàng đã mua được hoặc trả tiền mặt) rồi K thanh toán cho những người bán thông tin tài khoản ngân hàng (trả tiền mặt). Sau đó, K sẽ ghi lại các thông tin vào thẻ sim gồm: Thông tin người mở tài khoản ngân hàng, tên ngân hàng mở, tên đăng nhập và mật khẩu dùng để truy cập ứng dụng internetbanking của ngân hàng đó để chuyển lại cho H. Khi H và K làm được một thời gian, H thấy phương thức làm như hiện tại sẽ tốn nhiều thời gian nên đến khoảng tháng 01/2023, K là người dẫn những người này đi đến các chi nhánh Ngân hàng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ để lập tài khoản ngân hàng và cung cấp cho họ thông tin số điện thoại Zalo của H để mọi người kết bạn, nói chuyện với H. Sau đó, H sẽ liên lạc, hướng dẫn những người này qua các tài khoản Zalo của H lập ra (Thời điểm này, H có lập nhiều tài khoản Zalo, do thời gian đã lâu nên H không nhớ được các thông tin số điện thoại và tên đăng nhập). Khi làm theo phương thức này, H sẽ không cần chờ K đưa lại các thông tin của những người bán thông tin tài khoản ngân hàng như thời gian trước nữa. Tuy nhiên, H vẫn thanh toán cho K với mỗi một tài khoản là từ 250.000 đồng đến 400.000 đồng/01 tài khoản ngân hàng. Đến tháng 4/2023 thì K không mua bán tài khoản ngân hàng nữa.

Việc mua bán tài khoản ngân hàng của các bị cáo và những người có liên quan diễn ra cụ thể như sau:

Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2022 đến tháng 4/2023, Phùng Tuấn K, đã mua được tổng số 89 tài khoản ngân hàng của nhiều người khác nhau, cụ thể: Phùng Tuấn K mua của Phùng Nguyễn Huy H3, sinh năm 2006, trú tại khu A, xã N, huyện T, tỉnh Phú Thọ, 01 tài khoản ngân hàng V1 do Hoàng tự mở với giá 200.000 đồng. Ngoài ra, Phùng Nguyễn Huy H3 còn giới thiệu Đỗ Đức V, sinh năm 2006, trú tại khu A, xã N, huyện T, bán cho K 01 tài khoản ngân hàng V1 do V tự mở với giá 200.000 đồng, K trả công cho H3 số tiền 200.000 đồng. Phùng Tuấn K còn nhờ Phùng Nguyễn Huy H3 giúp K đưa Nguyễn Bảo N, sinh năm 2006, trú tại khu T, xã M, huyện T, đi mở 01 tài khoản ngân hàng B sau đó N bán cho K với giá 300.000 đồng, việc này H3 chỉ giúp K đưa N đi, không lấy tiền công.

Phùng Tuấn K mua của Nguyễn Việt S, sinh năm 2006, trú tại khu B, xã Đ, huyện T, tổng số 04 tài khoản ngân hàng do S tự mở (03 tài khoản ngân hàng V1, 01 tài khoản ngân hàng T6) với giá 400.000 đồng. Ngoài ra Nguyễn Việt S cùng với Hoàng Ngọc Đ1, sinh năm 2006, trú tại khu A, xã Đ, huyện T, đưa 04 người đi mở tài khoản ngân hàng sau đó bán cho K, cụ thể: đưa Lê Mai L, sinh năm 2006, trú tại khu M, phường B, thành phố V, đi mở 01 tài khoản ngân hàng V1, sau đó L bán cho K với giá 250.000 đồng; đưa Ngô Lan A, sinh năm 2006, trú tại tổ A, khu M, phường B, thành phố V, đi mở 02 tại khoản ngân hàng (01 tài khoản ngân hàng V1, 01 tài khoản ngân hàng T6), sau đó Ngô Lan A bán cho K với giá 250.000 đồng; đưa Hà Anh T2, sinh năm 2006, trú tại thôn T, xã C, huyện B, thành phố Hà Nội (Tạm trú và nơi ở hiện tại: Tổ A, khu L, phường M, thành phố V) đi mở 03 tài khoản ngân hàng (02 tài khoản ngân hàng V1, 01 tài khoản ngân hàng T6), sau đó T2 bán cho K với giá 250.000 đồng; đưa Nguyễn Thị Bích P1, sinh năm 2006, trú tại tổ B, khu M, phường B, thành phố V, đi mở 02 tài khoản ngân hàng (01 tài khoản ngân hàng V1, 01 tài khoản ngân hàng T6), sau đó P1 bán cho K với giá 400.000 đồng. Sau khi mua được tài khoản ngân hàng của 04 người nêu trên K trả công cho S số tiền 300.000 đồng, sau đó S đã trả công cho Đ1 số tiền 80.000 đồng.

Phùng Tuấn K mua của: Nguyễn Tiến T3, sinh năm 2006, HKTT: Khu H, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ tổng số 04 tài khoản ngân hàng do T3 tự mở (02 tài khoản ngân hàng V1, 02 tài khoản ngân hàng T6) với giá: 200.000 đồng; Nguyễn Hải K1, sinh năm 2006, trú tại khu A, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, tổng số 02 tài khoản ngân hàng do K1 tự mở (01 tài khoản ngân hàng V1, 01 tài khoản ngân hàng T6) với giá 100.000 đồng; Đỗ Hải Y, sinh năm 2006, trú tại khu B, xã Đ, huyện T, 02 tài khoản ngân hàng do Y tự mở (01 tài khoản ngân hàng V1, 01 tài khoản ngân hàng T6) với giá 150.000 đồng; Chu Thị H4, sinh năm 2006, trú tại khu A, xã C, huyện T, 04 tài khoản ngân hàng do H4 tự mở (02 tài khoản ngân hàng V1, 01 tài khoản ngân hàng T6, 01 tài khoản ngân hàng B) với giá 400.000 đồng; Lê Thị Thu H5, sinh năm 2006, trú tại khu B, xã H, huyện T, 02 tài khoản ngân hàng V1 do H5 tự mở với giá 140.000 đồng; Nguyễn Minh H6, sinh năm 2006, trú tại khu G, xã Đ, huyện T, 01 tài khoản ngân hàng B do H6 tự mở với giá 150.000 đồng; Đỗ Hải Đ2, sinh năm 2003, trú tại khu A, xã N, huyện T, 04 tài khoản ngân hàng do Đăng tự mở (03 tài khoản ngân hàng S1, 01 tài khoản ngân hàng V2) với giá 400.000 đồng; Trần Mạnh H7, sinh năm 2004, trú tại khu F, xã C, huyện T, 04 tài khoản ngân hàng do H7 tự mở (01 tài khoản ngân hàng T6, 03 tài khoản ngân hàng S1) với giá 370.000 đồng; Phạm Quốc N1, sinh năm 2006, trú tại khu A, xã Đ, huyện T, 06 tài khoản ngân hàng do N1 tự mở (04 tài khoản ngân hàng V1, 01 tài khoản ngân hàng T6, 01 tài khoản ngân hàng M1) với giá 700.000 đồng; Đặng Ngọc K2, sinh năm 2005, trú tại khu B, xã S, huyện T, 09 tài khoản ngân hàng do K2 tự mở (02 tài khoản ngân hàng V1, 02 tài khoản ngân hàng T6, 05 tài khoản ngân hàng A2) với giá 900.000 đồng; Nguyễn Văn N2, sinh năm 2002, trú tại khu I, xã S, huyện T, 05 tài khoản ngân hàng do N2 tự mở (02 tài khoản ngân hàng V2, 01 tài khoản ngân hàng A2, 02 tài khoản ngân hàng T6) với giá 500.000 đồng; Nguyễn Đức H8, sinh năm 2004, trú tại khu A, xã K, huyện T, 07 tài khoản ngân hàng do H8 tự mở (05 tài khoản ngân hàng V2, 02 tài khoản ngân hàng T6) với giá 700.000 đồng; Nguyễn Xuân H9, sinh năm 2006, trú tại khu A, xã V, huyện T, 03 tài khoản ngân hàng do H9 tự mở (01 tài khoản ngân hàng T6, 02 tài khoản ngân hàng V1) với giá 300.000 đồng; Trần Quang H10, sinh năm 2006, trú tại khu C, thị trấn T, huyện T, 04 tài khoản ngân hàng do H10 tự mở (02 tài khoản ngân hàng T6, 01 tài khoản ngân hàng V1, 01 tài khoản ngân hàng V2) với giá 600.000 đồng; Mai Anh T4, sinh năm 2006, trú tại khu C, xã Y, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, 04 tài khoản ngân hàng do T4 tự mở (01 tài khoản ngân hàng B, 02 tài khoản ngân hàng V1, 01 tài khoản ngân hàng V2) với giá 600.000 đồng; Vũ Hữu Đ3, sinh năm 2007, trú tại khu T, xã M, huyện T, 04 tài khoản ngân hàng do Đ3 tự mở (01 tài khoản ngân hàng B, 02 tài khoản ngân hàng V1, 01 tài khoản ngân hàng V2) với giá 300.000 đồng; Trần Thị Thùy C2, sinh năm 2007, trú tại khu A, xã M, huyện T, 01 tài khoản ngân hàng V1 do C2 tự mở với giá 200.000 đồng; Triệu Đức M, sinh năm 2006, trú tại tổ B, phố H, phường B, thành phố V, 04 tài khoản ngân hàng do M tự mở (02 tài khoản ngân hàng T6, 02 tài khoản ngân hàng V1) với giá 100.000 đồng; Nguyễn Thị Mai A1, sinh năm 2006, trú tại tổ B, khu A, phường T, thành phố V, 04 tài khoản ngân hàng do Nguyễn Thị Mai A1 tự mở (02 tài khoản ngân hàng T6, 02 tài khoản ngân hàng V1) với giá 250.000 đồng.

Như vậy Phùng Tuấn K đã mua của những người trên tổng số là 89 tài khoản ngân hàng với tổng số tiền là 9.810.000 đồng. Sau khi mua được các tài khoản ngân hàng, K đã bán lại toàn bộ các tài khoản ngân hàng này cho Đinh Xuân H với mỗi một tài khoản dao động từ 250.000 đồng đến 400.000 đồng, K được Đinh Xuân H đã trả số tiền khoảng 22.250.000 đồng, sau khi trừ đi số tiền đã bỏ ra để mua các tài khoản ngân hàng thì Phùng Tuấn K thu lợi bất chính số tiền khoảng 12.440.000 đồng. Ngoài ra, K còn bán cho Đàm Ngọc H2, sinh năm 2003, trú tại khu A, xã M, huyện T, 07 tài khoản ngân hàng do mình tự mở (02 tài khoản ngân hàng T6, 05 tài khoản ngân hàng A2) với giá 450.000 đồng. Tổng số tiền Phùng Tuấn K thu lợi bất chính khoảng 12.890.000 đồng.

Đối với Đàm Ngọc H2: Ngoài việc mua của Phùng Tuấn K 07 tài khoản ngân hàng như đã nêu trên thì H2 còn mua của Phùng Nguyễn Huy H3, sinh năm 2006, trú tại khu A, xã N, huyện T, 07 tài khoản ngân hàng (02 tài khoản ngân hàng T6, 05 tài khoản ngân hàng A2), với giá 700.000 đồng. Sau khi mua được các tài khoản ngân hàng thì H2 đã bán lại toàn bộ cho Đinh Xuân H, trong đó: bán 07 tài khoản ngân hàng mua của K với số tiền là 900.000 đồng và 07 tài khoản ngân hàng mua của P2 Nguyễn Huy H3 với số tiền là 1.200.000đ. Ngoài ra H2 còn tự mình mở 15 tài khoản ngân hàng (05 tài khoản ngân hàng V2, 05 tài khoản ngân hàng A2, 02 tài khoản ngân hàng T6, 02 tài khoản ngân hàng V1, 01 tài khoản ngân hàng M1) sau đó bán cho Đinh Xuân H 15 tài khoản này với giá 1.500.000₫. Đàm Ngọc H2 đã bán cho Đinh Xuân H tổng số 29 tài khoản ngân hàng với tổng số tiền là 3.600.000 đồng, sau khi trừ đi số tiền bỏ ra để mua tài khoản ngân hàng của Phùng Tuấn K và P2 Nguyễn Huy H3 là 1.150.000 đồng, số tiền Đàm Ngọc H2 thu lợi bất chính là 2.450.000 đồng.

Như vậy Đinh Xuân H đã mua của Phùng Tuấn K và Đàm Ngọc H2 118 tài khoản ngân hàng. Sau khi mua được 118 tài khoản ngân hàng từ K và H2 thì Đinh Xuân H đã bán các tài khoản này cho các đối tượng không quen biết trên mạng xã hội với giá dao động từ 500.000 đồng đến 600.000 đồng/01 tài khoản ngân hàng được tổng số tiền khoảng 59.000.000 đồng, sau khi trừ đi số tiền đã bỏ ra để mua 118 tài khoản ngân hàng với số tiền khoảng 25.850.000 đồng thì Đinh Xuân H thu lời bất chính số tiền khoảng 33.150.000 đồng. Ngoài ra Đinh Xuân H còn tự mình mở 11 tài khoản ngân hàng sau đó bán cho các đối tượng không quen biết với số tiền khoảng 5.500.000 đồng. Tổng số tiền Đinh Xuân H thu lợi bất chính khoảng 38.650.000 đồng.

Trong các lần liên lạc để mua bán tài khoản ngân hàng thì Đinh Xuân H đều sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu xanh, gắn sim số 0369894038 và điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 màu xanh gắn 02 sim số 0835023788 và 0852240841 để liên lạc trao đổi, quá trình điều tra vụ án Đinh Xuân H đã giao nộp 02 chiếc điện thoại này cùng các với sim điện thoại như đã nêu trên. Đối với Phùng Tuấn K đã sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu vàng hồng gắn sim số 0385555720 để liên lạc, trao đổi mua bán tài khoản ngân hàng, tuy nhiên chiếc điện thoại này đã bị hỏng nên K đã vứt bỏ và cùng không đi làm lại sim điện thoại, vì vậy Cơ quan điều tra không thu giữ được. Phùng Tuấn K đã giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max màu vàng, gắn sim số 0335965772 để phục vụ công tác điều tra vụ án.

Quá trình điều tra vụ án các bị cáo và những người có liên quan đã giao nộp tổng số tiền 50.510.000 đồng, trong đó: Đinh Xuân H giao nộp số tiền 25.000.000 đồng; Phùng Tuấn K giao nộp số tiền 13.000.000 đồng; Đàm Ngọc H2 giao nộp số tiền 2.450.000 đồng; Phùng Nguyễn Huy H3 giao nộp số tiền 1.100.000 đồng; Nguyễn Tiến T3 tự giao nộp số tiền 200.000 đồng; Nguyễn Hải K1 giao nộp số tiền 100.000 đồng; Đỗ Đức V giao nộp số tiền 200.000 đồng; Nguyễn Bảo N giao nộp số tiền 300.000 đồng; Nguyễn Việt S giao nộp số tiền 620.000 đồng; Hoàng Ngọc Đ1 giao nộp số tiền 80.000 đồng; Lê Mai L giao nộp số tiền 250.000 đồng; Ngô Lan A giao nộp số tiền 250.000 đồng; Hà Anh T2 giao nộp số tiền 250.000 đồng; Nguyễn Thị Bích P1 giao nộp số tiền 400.000 đồng; Đỗ Hải Y giao nộp số tiền 150.000 đồng; Chu Thị H4 giao nộp số tiền 400.000 đồng; Lê Thị Thu H5 giao nộp số tiền 140.000 đồng; Nguyễn Minh Hó giao nộp số tiền 150.000 đồng; Đỗ Hải Đ2 giao nộp số tiền 400.000 đồng; Trần Mạnh H7 giao nộp số tiền 370.000 đồng; Phạm Quốc N1 giao nộp số tiền 700.000 đồng; Đặng Ngọc K2 giao nộp số tiền 900.000 đồng; Nguyễn Văn N2 giao nộp số tiền 500.000 đồng; Nguyễn Đức H8 giao nộp số tiền 700.000 đồng; Nguyễn Xuân H9 giao nộp số tiền 300.000 đồng; Trần Quang H10 giao nộp số tiền 600.000 đồng; Mai Anh T4 giao nộp số tiền 150.0000 đồng; Vũ Hữu Đ3 giao nộp số tiền 300.000 đồng; Trần Thị Thùy C2 giao nộp số tiền 200.000 đồng; Triệu Đức M giao nộp số tiền 100.000 đồng; Nguyễn Thị Mai A1 giao nộp số tiền 250.000 đồng.

Quá trình điều tra vụ án Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã có công văn gửi tới các ngân hàng có liên quan đề nghị cung cấp thông tin tài khoản cũng như số dư của tài khoản ngân hàng đã bị mua bán, tuy nhiên đến ngày 25/02/2024 thời hạn điều tra vụ án đã hết mà chưa có kết quả phúc đáp của các ngân hàng, vì vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện T, đã kết thúc điều tra và chuyển hồ sơ đến Viện kiểm sát. Đến ngày 16/3/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện T mới nhận được đầy đủ công văn phúc đáp của các ngân hàng. Căn cứ vào công văn phúc đáp của các ngân hàng xác định: Hầu hết các tài khoản ngân hàng bị mua bán trái phép đều không có số dư hoặc số dư đủ để duy trì tài khoản (dưới 100.000 đồng). Còn lại 08 tài khoản ngân hàng có số dư trên 100.000 đồng nhưng chưa thể hiện được số dư hiện có trong các tài khoản ngân hàng này là của ai và có liên quan đến việc tranh chấp hoặc vi phạm pháp luật hay không nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T, đã có công văn đề nghị Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba ra Quyết định trả hồ sơ vụ án cho Cơ quan CSĐT Công an huyện T, để điều tra bổ sung các nội dung nêu trên. Ngày 16/3/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba đã ra Quyết định số 01, trả hồ sơ vụ án cho Cơ quan CSĐT Công an huyện T để tiến hành điều tra bổ sung. Kết quả điều tra bổ sung xác định: tính đến thời điểm 10 giờ 30 phút ngày 02/4/2024 tài khoản ngân hàng số 42110000619592 có số dư trong tài khoản là 3.827.614 đồng, tài khoản ngân hàng số 42810000967351 có số dư trong tài khoản là 409.011 đồng, tài khoản ngân hàng số 42210000375590 có số dư trong tài khoản là 26.675.380 đồng, tài khoản ngân hàng số 4220376593 có số dư trong tài khoản là 4.389.458 đồng; Tính đến thời điểm 16 giờ 30 phút ngày 02/4/2024 các tài khoản ngân hàng số 1033216447 có số dư trong tài khoản là 361.725 đồng, tài khoản ngân hàng số 1036565079 có số dư trong tài khoản là 631.635 đồng, tài khoản ngân hàng số 1035049399 có số dư trong tài khoản là 300.836 đồng, tài khoản ngân hàng số 1035017778 có số dư trong tài khoản là: 2.367.000 đồng. Tại thời điểm xác minh, xác định 08 tài khoản ngân hàng có số dư như đã nêu trên, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra lệnh phong toả đối với 08 tài khoản ngân hàng này. Qua nghiên cứu, rà soát tài liệu sao kê và các tài liệu khác do ngân hàng cung cấp nhận thấy 08 tài khoản ngân hàng có số dư nêu trên phát sinh nhiều giao dịch chuyển tiền, tuy nhiên không truy nguyên, xác định được cá nhân, tổ chức thực tế sử dụng, thực hiện các giao dịch chuyển tiền. Do vậy, không có đủ căn cứ để làm rõ về chủ sở hữu và nguồn gốc số tiền có trong 08 tài khoản ngân hàng này. Đối với các tài khoản ngân hàng có số dư dưới 100.000₫ Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Lệnh phong toả tài khoản và yêu cầu chủ tài khoản đóng, khoá tài khoản.

Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã có Công văn gửi Bộ thông tin và truyền thông về việc đề nghị phối hợp điều tra xác minh thu thập địa chỉ IP của tài khoản Facebook: "Chuyên Visa", địa chỉ liên kết: https://www.facebook.com/chuyenvisa2023 tà i khoản Telegram: "LHS" (Username Telegaram: "@lhs997"; thông tin di động: 0963981078) xác định thông tin chủ các tài khoản này là ai, tên, tuổi, địa chỉ, số điện thoại dùng để đăng ký như thế nào. Tại Công văn số 3055 ngày 13/12/2023 của Bộ T7 trả lời:

“ Đối với tài khoản Telegram: Telegram là nền tảng tin nhắn, gọi điện, chia sẻ hình ảnh, âm thanh, video qua mạng Internet (OTT), nền tảng này được vận hành bởi Công ty nước ngoài và không có hiện diện pháp lý tại Việt Nam, chưa thông báo thông tin liên hệ tại Việt Nam (T8 không tiết lộ nơi họ thuê văn phòng công ty hoặc pháp nhân đứng tên thuê văn phòng).

Đối với tài khoản Facebook: Mạng xã hội Facebook thuộc sở hữu của Công ty M2 (M, I) có trụ sở tại Hoa Kỳ. Hiện tại, mạng xã hội Facebook chưa có hiện diện pháp lý tại Việt Nam, chỉ hoạt động cung cấp thông tin công cộng xuyên biên giới vào Việt Nam.

Các nền tảng (Facebook và T1) đều có chính sách bảo mật thông tin người dùng (như: tên, ngày tháng năm sinh, địa chỉ, email, số điện thoại, tin nhắn, cuộc gọi...). Cục phát thanh truyền hình và thông tin điện tử không có thông tin, dữ liệu và không có biện pháp kỹ thuật phù hợp để xác định thông tin tài khoản Facebook và T1 nêu trên để cung cấp theo yêu cầu.”

Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã có Công văn gửi Công ty Cổ phần V3 (VNG Corporation là công ty Q) về việc phối hợp cung cấp thông tin các tài khoản Zalo có tên hiển thị là: “Bối vàng”; “P1"; "Miu"; "Đ3"; "Luxubu"; "C1 thần” gồm: Địa chỉ IP (kèm theo thời gian) truy cập của các tài khoản Zalo nêu trên; Xác định thông tin chủ các tài khoản này là ai, tên, tuổi, địa chỉ, số thuê bao điện thoại dùng để đăng ký như thế nào; Vị trí truy cập các tài khoản trên (nếu tài khoản đang hoạt động). Tại Công văn số 70 ngày 02/01/2024 của Công ty Cổ phần V3 (VNG Corporation) trả lời:

“Thông tin tài khoản “Bối vàng”; "Pl"; "Miu"; "Đ3"; "Luxubu"; "Cl thần” cung cấp không đủ nên VNG không thể hỗ trợ xác minh và bộ phận kỹ thuật của Công ty không lưu thông tin."

Về các vật chứng của vụ án:

Đối với: 01 thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu xanh, gắn sim số 0369894038 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 màu xanh gắn 02 sim số 0835023788 và 0852240841. Đây là các điện thoại Đinh Xuân H sử dụng để liên lạc, trao đổi việc mua bán tài khoản ngân hàng.

Đối với: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max màu vàng, gắn sim số 0335965772 thuộc sở hữu của Phùng Tuấn K không liên quan đến việc mua bán tài khoản ngân hàng và vi phạm pháp luật.

Đối với số tiền 50.510.000 đồng, trong đó có số tiền 50.400.000 đồng đây là tiền liên quan đến việc mua bán tài khoản ngân hàng do các bị cáo và những người có liên quan giao nộp, còn lại số tiền 110.000 đồng của Phùng Tuấn K không liên quan đến việc mua bán tài khoản ngân hàng và vi phạm pháp luật.

Tại bản cáo trạng số: 32/CT-VKSTB ngày 05 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba truy tố các bị cáo Đinh Xuân H, Phùng Tuấn K về tội “Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” theo điểm a khoản 2 Điều 291 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 291, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Xuân H, Phùng Tuấn K.

Tuyên bố bị cáo Đinh Xuân H, Phùng Tuấn K phạm tội: “Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng".

Xử phạt bị cáo Đinh Xuân H từ 09 (Chín) tháng tù đến 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 (Mười tám) tháng đến 24 (Hai mươi tư) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Phùng Tuấn K 06 (Sáu) tháng tù đến 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 (Mười hai) tháng đến 18 (Mười tám) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 BLHS; Khoản 1, 2, 3 Điều 106 Bộ luật TTHS:

+ Tịch thu bán nộp ngân sách nhà nước: 01 thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu xanh, dung lượng 256 GB, số máy: MWH72LL/A, số IMEI 1: 353895102178742, số IMEI 2: 353895102157712 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 màu xanh, dung lượng bộ nhớ 128 GB, số IMEI1: 862366053664811, số IMEI 2: 862366053664803 của Đinh Xuân H.

+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền các bị cáo thu lợi bất chính gồm: số tiền 38.650.000₫ của Đinh Xuân H, xác nhận H đã nộp số tiền 25.000.000 đồng, H còn phải nộp số tiền 13.650.000 đồng; số tiền 12.890.000 đồng của Phùng Tuấn K, xác nhận K đã nộp số tiền 13.000.000đ.

+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền của những người mở tài khoản bán cho các bị cáo đã nộp gồm: số tiền 2.450.000 đồng của Đàm Ngọc H2; số tiền 1.100.000 đồng của Phùng Nguyễn Huy H3; số tiền 200.000 đồng của Nguyễn Tiến T5; của Nguyễn Hải K1 số tiền 100.000 đồng; của Đỗ Đức V số tiền 200.000 đồng; của Nguyễn Bảo N số tiền 300.000 đồng; của Nguyễn Việt S số tiền 620.000 đồng; của Hoàng Ngọc Đ1 số tiền 80.000 đồng; của Lê Mai L số tiền 250.000 đồng; của Ngô Lan A số tiền 250.000 đồng; của Hà Anh T2 số tiền 250.000 đồng; của Nguyễn Bích P1 số tiền 400.000 đồng; của Đỗ Hải Y số tiền 150.000 đồng; của Chu Thị Hằng số tiền 400.000 đồng; của Lê Thị Thu H5 số tiền 140.000 đồng; của Nguyễn Minh H6 số tiền 150.000 đồng; của Đỗ Hải Đ2 số tiền 400.000 đồng; của Trần Mạnh H7 số tiền 370.000 đồng; của Phạm Quốc N1 số tiền 700.000 đồng; của Đặng Ngọc K2 số tiền 900.000 đồng; của Nguyễn Văn N2 số tiền 500.000 đồng; của Nguyễn Đức H8 số tiền 700.000 đồng; của Nguyễn Xuân H9 số tiền 300.000 đồng; của Trần Quang H10 số tiền 600.000 đồng; của Mai Anh T4 số tiền 150.000 đồng; của Vũ Hữu Đ3 số tiền 300.000 đồng; của Trần Thị Thùy C2 số tiền 200.000 đồng; của Triệu Đức M số tiền 100.000 đồng; của Nguyễn Thị Mai A1 số tiền 250.000 đồng.

+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 sim điện thoại số 0369.894.xxx; 01 sim điện thoại số 0835.023.xxx và 01 sim điện thoại số 0852.240.xxx của Đinh Xuân H.

+ Trả lại cho Phùng Tuấn K số tiền 110.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max màu vàng dung lượng 64 GB, số máy: MT5X2LL/A, số IMEI 1: 357265093196968, số IMEI 2: 357265093081246 gắn sim số 0335965772 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04/7/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Ba)

+ Buộc Ngân hàng TMCP Đ4 (B) – Chi nhánh P3 đóng các tài khoản số 42110000619592, tên chủ tài khoản Chu Thị H4 có số dư 3.827.614 đồng; tài khoản ngân hàng S2, tên chủ tài khoản Vũ Hữu Đ3 có số dư 409.011 đồng; tài khoản ngân hàng S3, tên chủ tài khoản Nguyễn Minh H6 có số dư 26.675.380 đồng; tài khoản ngân hàng S4, tên chủ tài khoản Mai Anh T4 có số dư 4.389.458 đồng. Buộc Ngân hàng TMCP N3 (V1) – Chi nhánh P3 đóng các tài khoản số 1033216447, tên chủ tài khoản Đinh Xuân H, có số dư 361.725 đồng; tài khoản ngân hàng S5, tên chủ tài khoản Đỗ Đức V có số dư 631.635 đồng; tài khoản ngân hàng S6, tên chủ tài khoản Đặng Ngọc K2 có số dư 300.386 đồng; tài khoản ngân hàng S7, tên chủ tài khoản Nguyễn Xuân H9 có số dư 2.367.000 đồng. Ngân hàng TMCP Đ4 (B) – Chi nhánh P3 và Ngân hàng TMCP N3 (V1) – Chi nhánh P3 có trách nhiệm chuyển toàn bộ số dư của các tài khoản ngân hàng nêu trên sau khi trừ đi các chi phí phát sinh trong quá trình sử dụng tài khoản đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Ba. Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Ba có trách nhiệm tạm giữ số tiền trên trong thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Sau 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu chủ sở hữu của các tài khoản nêu trên không có đơn đề nghị xác nhận quyền sở hữu và xin lại tài sản thì số tiền trên sẽ bị tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- Về án phí: Căn cứ khoản 1, 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không tranh luận, bào chữa và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo và những người tham gia tố tụng đều nhất trí và không ai có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng của vụ án và các tài liệu khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2022 đến tháng 6/2023, Đinh Xuân H đã thực hiện hành vi mua trái phép 118 tài khoản ngân hàng của Phùng Tuấn K và Đàm Ngọc H2 với số tiền khoảng 25.850.000 đồng. Sau đó H đã bán toàn bộ số tài khoản nêu trên cho một số người không quen biết thông qua mạng xã hội Zalo, Facebook, T1 với giá từ 500.000 đồng đến 600.000 đồng/01 tài khoản ngân hàng được tổng số tiền khoảng 59.000.000đ. Số tiền Đinh Xuân H thu lợi bất chính từ việc bán 118 tài khoản ngân hàng khoảng 33.150.000đ. Ngoài ra Đinh Xuân H còn tự mình mở 11 tài khoản ngân hàng sau đó bán cho một số người không quen biết thu lợi bất chính số tiền khoảng 5.500.000đ. Tổng số tiền Đinh Xuân H đã thu lợi bất chính khoảng 38.650.000đ.

Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2022 đến tháng 4/2023, Phùng Tuấn K đã thực hiện hành vi mua tổng số 89 tài khoản ngân hàng của nhiều người khác nhau với số tiền là 9.810.000đ, sau khi mua được các tài khoản ngân hàng thì Phùng Tuấn K đã bán lại toàn bộ các tài khoản ngân hàng này cho Đinh Xuân H với giá giao động từ 250.000 đồng đến 400.000 đồng/01 tài khoản ngân hàng, được số tiền khoảng 22.250.000 đồng, Phùng Tuấn K đã thu lợi bất chính từ việc bán 89 tài khoản ngân hàng với số tiền khoảng 12.440.000 đồng. Ngoài ra Phùng Tuấn K còn tự mình mở 07 tài khoản ngân hàng sau đó bán cho Đàm Ngọc H2 với số tiền 450.000đ. Như vậy tổng số tiền Phùng Tuấn K thu lợi bất chính khoảng 12.890.000 đồng.

Do đó, Đinh Xuân H và Phùng Tuấn K phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 291 BLHS.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, các bị cáo nhận thức được hành vi thực hiện là vi phạm pháp luật nên các bị cáo không tranh luận và bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đinh Xuân H, Phùng Tuấn K phạm tội “Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 291 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Điều 291. Tội thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng, quy định:

“1. Người nào thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác với số lượng từ 20 tài khoản đến dưới 50 tài khoản hoặc thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác với số lượng từ 50 tài khoản đến dưới 200 tài khoản;”

Đối với Đàm Ngọc H2 đã bán cho Đinh Xuân H tổng số 29 tài khoản ngân hàng, tuy nhiên trong tổng số 29 tài khoản ngân hàng này chỉ có 14 tài khoản là do H2 mua của người khác sau đó bán lại cho H, còn lại 15 tài khoản là do H2 tự mình mở ra để bán cho H, vì vậy H2 chỉ phải chịu trách nhiệm đối với 14 tài khoản ngân hàng do H2 mua sau đó bán lại cho H. Mặt khác số tiền thu lợi bất chính của H2 dưới 20.000.000 đồng, vì vậy hành vi của Đàm Ngọc H2 chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an huyện T đã chuyển hồ sơ đến Chủ tịch UBND huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H2 là phù hợp.

Ngoài ra Đinh Xuân H còn tự mình mở 11 tài khoản ngân hàng sau đó bán cho các đối tượng không quen biết với tổng số tiền khoảng 5.500.000 đồng. Phùng Tuấn K bán cho Đàm Ngọc H2 07 tài khoản ngân hàng do mình tự mở với giá 450.000 đồng. Đây là hành vi vi phạm hành chính, Công an huyện T đã chuyển hồ sơ đến Chủ tịch UBND huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H và K là phù hợp.

Đối với những người liên quan đã mở các tài khoản ngân hàng để bán lại cho Phùng Tuấn K, đây là hành vi vi phạm hành chính vì vậy Công an huyện T đã chuyển hồ sơ đến Chủ tịch UBND huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với những người này là phù hợp.

[3] Tính chất vụ án: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào trật tự quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tài chính ngân hàng; xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Vì vậy, đưa các bị cáo ra xét xử và áp dụng hình phạt mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Bị cáo Đinh Xuân H và Phùng Tuấn K đều không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo đều có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và ổn định, lần phạm tội này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng có khung hình phạt tù không quá 3 năm nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo Đinh Xuân H từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 (Mười tám) tháng đến 24 (Hai mươi tư) tháng; đề nghị xử phạt bị cáo Phùng Tuấn K 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 (Mười hai) tháng đến 18 (Mười tám) tháng là phù hợp.

[5] Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 291 của Bộ luật Hình sự, các bị cáo có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy, bị cáo Đinh Xuân H và Phùng Tuấn K không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, không có chức vụ. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 BLHS; Khoản 1, 2, 3 Điều 106 Bộ luật TTHS:

  • + Đối với: 01 thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu xanh, dung lượng 256 GB, số máy: MWH72LL/A, số IMEI 1: 353895102178742, số IMEI 2: 353895102157712 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 màu xanh, dung lượng bộ nhớ 128 GB, số IMEI1: 862366053664811, số IMEI 2: 862366053664803 của Đinh Xuân H sử dụng để liên lạc, trao đổi việc mua bán tài khoản ngân hàng nên cần tịch thu Ngân sách nhà nước.
  • + Đối với số tiền các bị cáo thu lợi bất chính cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước, gồm: số tiền 38.650.000₫ của Đinh Xuân H, xác nhận H đã nộp số tiền 25.000.000 đồng; số tiền 12.890.000 đồng của Phùng Tuấn K, xác nhận K đã nộp số tiền 13.000.000₫.
  • + Truy thu Ngân sách nhà nước số tiền là 13.650.000 đồng của Đinh Xuân H.
  • + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền của những người mở tài khoản bán cho các bị cáo đã nộp gồm: số tiền 2.450.000 đồng của Đàm Ngọc H2; số tiền 1.100.000 đồng của Phùng Nguyễn Huy H3; số tiền 200.000 đồng của Nguyễn Tiến T5; của Nguyễn Hải K1 số tiền 100.000 đồng; của Đỗ Đức V số tiền 200.000 đồng; của Nguyễn Bảo N số tiền 300.000 đồng; của Nguyễn Việt S số tiền 620.000 đồng; của Hoàng Ngọc Đ1 số tiền 80.000 đồng; của Lê Mai L số tiền 250.000 đồng; của Ngô Lan A số tiền 250.000 đồng; của Hà Anh T2 số tiền 250.000 đồng; của Nguyễn Bích P1 số tiền 400.000 đồng; của Đỗ Hải Y số tiền 150.000 đồng; của Chu Thị Hằng số tiền 400.000 đồng; của Lê Thị Thu H5 số tiền 140.000 đồng; của Nguyễn Minh H6 số tiền 150.000 đồng; của Đỗ Hải Đ2 số tiền 400.000 đồng; của Trần Mạnh H7 số tiền 370.000 đồng; của Phạm Quốc N1 số tiền 700.000 đồng; của Đặng Ngọc K2 số tiền 900.000 đồng; của Nguyễn Văn N2 số tiền 500.000 đồng; của Nguyễn Đức H8 số tiền 700.000 đồng; của Nguyễn Xuân H9 số tiền 300.000 đồng; của Trần Quang H10 số tiền 600.000 đồng; của Mai Anh T4 số tiền 150.000 đồng; của Vũ Hữu Đ3 số tiền 300.000 đồng; của Trần Thị Thùy C2 số tiền 200.000 đồng; của Triệu Đức M số tiền 100.000 đồng; của Nguyễn Thị Mai A1 số tiền 250.000 đồng.
  • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 sim điện thoại số 0369.894.xxx; 01 sim điện thoại số 0835.023.xxx và 01 sim điện thoại số 0852.240.xxx của Đinh Xuân H.
  • + Trả lại cho Phùng Tuấn K số tiền 110.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu vàng, dung lượng 64 GB, số máy: MT5X2LL/A, số IMEI 1: 357265093196968, số IMEI 2: 357265093081246 gắn sim số 0335965772, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04/7/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Ba)
  • + Buộc Ngân hàng TMCP Đ4 – Chi nhánh P3 đóng các tài khoản số 42110000619592, tên chủ tài khoản Chu Thị H4 có số dư 3.827.614 đồng; tài khoản ngân hàng S2, tên chủ tài khoản Vũ Hữu Đ3 có số dư 409.011 đồng; tài khoản ngân hàng S3, tên chủ tài khoản Nguyễn Minh H6 có số dư 26.675.380 đồng; tài khoản ngân hàng S4, tên chủ tài khoản Mai Anh T4 có số dư 4.389.458 đồng.
  • Buộc Ngân hàng TMCP N3 – Chi nhánh P3 đóng các tài khoản số 1033216447, tên chủ tài khoản Đinh Xuân H, có số dư 361.725 đồng; tài khoản ngân hàng S5, tên chủ tài khoản Đỗ Đức V có số dư 631.635 đồng; tài khoản ngân hàng S6, tên chủ tài khoản Đặng Ngọc K2 có số dư 300.386 đồng; tài khoản ngân hàng S7, tên chủ tài khoản Nguyễn Xuân H9 có số dư 2.367.000 đồng.
  • Ngân hàng TMCP Đ4 - Chi nhánh P3 và Ngân hàng TMCP N3 - Chi nhánh P3 có trách nhiệm chuyển toàn bộ số dư của các tài khoản ngân hàng nêu trên sau khi trừ đi các chi phí phát sinh trong quá trình sử dụng tài khoản đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Ba. Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Ba có trách nhiệm tạm giữ số tiền trên trong thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Sau 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu chủ sở hữu của các tài khoản nêu trên không có đơn đề nghị xác nhận quyền sở hữu và xin lại tài sản thì số tiền trên sẽ bị tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[7] Đối với các đối tượng đã liên lạc với Đinh Xuân H qua mạng xã hội Z, Facebook, T1 để mua trái phép tài khoản ngân hàng, quá trình điều tra chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ của những người này, vì vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tiếp tục xác minh khi nào làm rõ thì xử lý sau là phù hợp.

[8] Về án phí: Bị cáo Đinh Xuân H, Phùng Tuấn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 291, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Đinh Xuân H, Phùng Tuấn K.

    Tuyên bố bị cáo Đinh Xuân H, Phùng Tuấn K phạm tội: “Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng".

    - Xử phạt bị cáo Đinh Xuân H 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Đinh Xuân H cho UBND xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo H có trách nhiệm phối hợp với UBND xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

    - Xử phạt bị cáo Phùng Tuấn K 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Phùng Tuấn K cho UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo K có trách nhiệm phối hợp với UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

    Các bị cáo Đinh Xuân H và Phùng Tuấn K thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

    Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát và giáo dục các bị cáo được thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 BLHS; Khoản 1, 2, 3 Điều 106 Bộ luật TTHS:
    • + Tịch thu bán nộp ngân sách nhà nước: 01 thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu xanh, dung lượng 256 GB, số máy: MWH72LL/A, số IMEI 1: 353895102178742, số IMEI 2: 353895102157712 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 màu xanh, dung lượng bộ nhớ 128 GB, số IMEI1: 862366053664811, số IMEI 2: 862366053664803 của Đinh Xuân H.
    • + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 38.650.000 đồng của Đinh Xuân H, xác nhận H đã nộp số tiền 25.000.000 đồng; số tiền 12.890.000 đồng của Phùng Tuấn K, xác nhận K đã nộp số tiền 13.000.000 đồng.
    • + Truy thu Ngân sách nhà nước số tiền 13.650.000 đồng của Đinh Xuân H.
    • + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền của những người mở tài khoản bán cho các bị cáo đã nộp gồm: số tiền 2.450.000 đồng của Đàm Ngọc H2; số tiền 1.100.000 đồng của Phùng Nguyễn Huy H3; số tiền 200.000 đồng của Nguyến Tiến T5; của Nguyễn Hải K1 số tiền 100.000 đồng; của Đỗ Đức V số tiền 200.000 đồng; của Nguyễn Bảo N số tiền 300.000 đồng; của Nguyễn Việt S số tiền 620.000 đồng; của Hoàng Ngọc Đ1 số tiền 80.000 đồng; của Lê Mai L số tiền 250.000 đồng; của Ngô Lan A số tiền 250.000 đồng; của Hà Anh T2 số tiền 250.000 đồng; của Nguyễn Bích P1 số tiền 400.000 đồng; của Đỗ Hải Y số tiền 150.000 đồng; của Chu Thị Hằng số tiền 400.000 đồng; của Lê Thị Thu H5 số tiền 140.000 đồng; của Nguyễn Minh H6 số tiền 150.000 đồng; của Đỗ Hải Đ2 số tiền 400.000 đồng; của Trần Mạnh H7 số tiền 370.000 đồng; của Phạm Quốc N1 số tiền 700.000 đồng; của Đặng Ngọc K2 số tiền 900.000 đồng; của Nguyễn Văn N2 số tiền 500.000 đồng; của Nguyễn Đức H8 số tiền 700.000 đồng; của Nguyễn Xuân H9 số tiền 300.000 đồng; của Trần Quang H10 số tiền 600.000 đồng; của Mai Anh T4 số tiền 150.000 đồng; của Vũ Hữu Đ3 số tiền 300.000 đồng; của Trần Thị Thùy C2 số tiền 200.000 đồng; của Triệu Đức M số tiền 100.000 đồng; của Nguyễn Thị Mai A1 số tiền 250.000 đồng.
    • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 sim điện thoại số 0369.894.xxx; 01 sim điện thoại số 0835.023.xxx và 01 sim điện thoại số 0852.240.xxx của Đinh Xuân H.
    • + Trả lại cho Phùng Tuấn K số tiền 110.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu vàng, dung lượng 64 GB, số máy: MT5X2LL/A, số IMEI 1: 357265093196968, số IMEI 2: 357265093081246 gắn sim số 0335965772, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
    • (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04/7/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Ba)
    • + Buộc Ngân hàng TMCP Đ4 – Chi nhánh P3 đóng các tài khoản số 42110000619592, tên chủ tài khoản Chu Thị H4 có số dư 3.827.614 đồng; tài khoản ngân hàng S2, tên chủ tài khoản Vũ Hữu Đ3 có số dư 409.011 đồng; tài khoản ngân hàng S3, tên chủ tài khoản Nguyễn Minh H6 có số dư 26.675.380 đồng; tài khoản ngân hàng S4, tên chủ tài khoản Mai Anh T4 có số dư 4.389.458 đồng.
    • Buộc Ngân hàng TMCP N3 – Chi nhánh P3 đóng các tài khoản số 1033216447, tên chủ tài khoản Đinh Xuân H, có số dư 361.725 đồng; tài khoản ngân hàng S5, tên chủ tài khoản Đỗ Đức V có số dư 631.635 đồng; tài khoản ngân hàng S6, tên chủ tài khoản Đặng Ngọc K2 có số dư 300.386 đồng; tài khoản ngân hàng S7, tên chủ tài khoản Nguyễn Xuân H9 có số dư 2.367.000 đồng.
    • Ngân hàng TMCP Đ4 - Chi nhánh P3 và Ngân hàng TMCP N3 - Chi nhánh P3 có trách nhiệm chuyển toàn bộ số dư của các tài khoản ngân hàng nêu trên sau khi trừ đi các chi phí phát sinh trong quá trình sử dụng tài khoản đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Ba. Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Ba có trách nhiệm tạm giữ số tiền trên trong thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Sau 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu chủ sở hữu của các tài khoản nêu trên không có đơn đề nghị xác nhận quyền sở hữu và xin lại tài sản thì số tiền trên sẽ bị tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Đinh Xuân H, Phùng Tuấn K, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND huyện Thanh Ba;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Ba;
  • - Công an huyện Thanh Ba;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(đã ký)

Trần Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ về mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 40/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger