TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30-7-2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Mai Thị Kim Thanh;
- Ông Đặng Thái Hoà.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Đại Phụng – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 172/2024/TLST-HNGĐ, ngày 09 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phan Bích H, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 09 tháng 5 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phan Bích H trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh T sống chung với nhau từ năm 2006, đến năm 2010 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Hôn nhân tự nguyện, không ai ép buộc. Trong quá trình chung sống thì vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh T không có nghề nghiệp ổn định, không chăm lo cho gia đình mà thường xuyên cờ bạc, nhậu nhẹt và hiện nay đang chấp hành án tại K1, đội 6, P trại 1 trại giam T2, thời hạn chấp hành án 03 năm 06 tháng tù về tội đánh bạc. Vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm với nhau nên thường xuyên gây gỗ, cải nhau. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên Trần Tuấn P1, sinh ngày 17-5-2007, Trần Bảo L, sinh ngày 03-12-2011 và Trần Cát T1, sinh ngày 02-11-2013. Hiện tại 03 cháu đang sống chung với chị H. Chị yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 03 cháu và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 04 tháng 7 năm 2024, bị đơn anh Trần Văn T trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị H sống chung với nhau từ năm 2006, nhưng đến năm 2010 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Hôn nhân tự nguyện, không ai ép buộc. Trong quá trình chung sống, anh thừa nhận những mâu thuẫn như chị H trình bày là đúng nên anh đồng ý ly hôn với chị H.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên Trần Tuấn P1, sinh ngày 17-5-2007, Trần Bảo L, sinh ngày 03-12-2011 và Trần Cát T1, sinh ngày 02-11-2013. Anh đồng ý để chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 03 con chung và anh không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Chị Phan Bích H và anh Trần Văn T vắng mặt và có đơn đề nghị vắng mặt nên không có lời trình bày.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
- + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã tuân thủ theo trình tự thủ tục, thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- + Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phan Bích H đối với anh Trần Văn T.
Về nuôi con chung: Giao 03 con chung tên Trần Tuấn P1, sinh ngày 17-5-2007, Trần Bảo L, sinh ngày 03-12-2011 và Trần Cát T1, sinh ngày 02-11-2013 cho chị Phan Bích H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị Phan Bích H không yêu cầu anh Trần Văn T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận chị Phan Bích H và anh Trần Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị Phan Bích H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Phan Bích H và anh Trần Văn T là nguyên đơn, bị đơn trong vụ án, vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị vắng mặt. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị H, anh T.
[2] Về hôn nhân: Chị Phan Bích H và anh Trần Văn T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2006 và có đăng ký kết hôn ngày 14-12-2010 theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử nhận định đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của chị Phan Bích H, Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị H cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn do anh T không có nghề nghiệp ổn định, không chăm lo cho gia đình và hiện đang chấp hành án thời hạn 03 năm 06 tháng tù về tội đánh bạc. Quá trình giải quyết vụ án, anh T cũng thừa nhận mâu thuẫn như chị H trình bày là đúng. Như vậy, giữa chị H và anh T đã có phát sinh mâu thuẫn, xét thấy tình cảm vợ chồng giữa anh chị không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị H xin ly hôn với anh N và anh N cũng đồng ý nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[3] Về con chung: Chị Phan Bích H và anh Trần Văn T có 03 con chung tên Trần Tuấn P1, sinh ngày 17-5-2007, Trần Bảo L, sinh ngày 03-12-2011 và Trần Cát T1, sinh ngày 02-11-2013, hiện đang sống với chị H. Quá trình giải quyết vụ án, chị H và anh T thống nhất giao 03 con chung cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, sự thỏa thuận giữa chị H và anh T là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Sau khi ly hôn, anh Trần Văn T có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung, không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phan Bích H và anh Trần Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5] Về án phí: Chị Phan Bích H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phan Bích H và anh Trần Văn T.
- Về nuôi con chung: Giao 03 con chung tên Trần Tuấn P1, sinh ngày 17-5-2007, Trần Bảo L, sinh ngày 03-12-2011 và Trần Cát T1, sinh ngày 02-11-2013 cho chị Phan Bích H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị Phan Bích H không yêu cầu anh Trần Văn T cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, anh Trần Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận chị Phan Bích H và anh Trần Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phan Bích H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006168 ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; chị Phan Bích H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Chị Phan Bích H và anh Trần Văn T vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Quyên |
Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 40/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Phan Bích H ly hôn với anh Trần Văn T
