|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 03/05/2024
V/v: “Tranh chấp ly hôn, con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
-
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Thị Nam.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Liêu Tài Ngoánh.
- Ông Huỳnh Tài Em
- Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Nhị Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Văn Hữu Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 05 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 280/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXX- ST ngày 04 tháng 04 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: - Chị Huỳnh Kiều P, sinh năm: 1982 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Vĩnh Lạc, xã Vĩnh Thịnh, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu
* Bị đơn: - Anh Lê Văn G, sinh năm: 1979 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Vĩnh Lạc, xã Vĩnh Thịnh, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử nguyên đơn là chị Huỳnh Kiều P trình bày: Chị và anh Lê Văn G xây dựng hôn nhân vào năm 2001. Có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Qúa trình chung sống hai vợ chồng chị có 02 người con chung là Lê Kim Ngân, sinh năm: 2002 và Lê Kim Ngọc, sinh năm: 2004 đã trưởng thành và có cuộc sống riêng; Tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa hai vợ chồng chị là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã dân đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, hiện tại hai vợ chồng chị đã sống ly thân với nhau từ năm 2021 đến nay. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh G; Về con chung đã trưởng thành Tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu
* Đối với bị đơn là anh Lê Văn G, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt theo quy định của pháp luật các văn bản tố tụng yêu cầu anh Lê Văn G cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Kiều P, nhưng anh Lê Văn G không cung cấp, cũng không có ý kiến bằng văn bản là đã từ bỏ quyền lợi của mình thông qua việc không tham gia tố tụng theo triệu tập của Tòa án. Vì vậy, Toà án căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết.
Ý kiến của kiểm sát viên:
Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử vụ án, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận chị Huỳnh Kiều P và anh Lê Văn G là vợ chồng; Về con chung, tài sản chung, nợ chung không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về án phí chị Huỳnh Kiều P phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp ly hôn giữa nguyên đơn là chị Huỳnh Kiều P và anh Lê Văn G ngụ tại địa chỉ huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.
Tại phiên tòa, chị Huỳnh Kiều P có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Anh Lê Văn G được Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình tống đạt văn bản tố tụng, triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Chị Huỳnh Kiều P và anh Lê Văn G đều thống nhất ông bà cùng chung sống với nhau vào năm 2001, không có đăng ký kết hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, việc chị Huỳnh Kiều P và anh Lê Văn G sống với nhau vào năm 1993 là hoàn toàn có thật, điều này đã được chị Huỳnh Kiều P thừa nhận. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống, chị Huỳnh Kiều P và anh Lê Văn G không có đăng ký kết hôn nên căn cứ vào Điều 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình quan hệ hôn nhân giữa chị Huỳnh Kiều P và anh Lê Văn G không phải là hôn nhân hợp pháp, không được pháp luật thừa nhận nên không công nhận chị Huỳnh Kiều P và anh Lê Văn G là vợ chồng.
[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống có có 02 người con chung là Lê Kim Ngân, sinh năm: 2002 và Lê Kim Ngọc, sinh năm: 2004 đã trưởng thành và có cuộc sống riêng không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Tài sản chung, nợ chung không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
[3] Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, chị Huỳnh Kiều P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
[4] Những phân tích, nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với tài liệu chứng cứ cũng như phân tích, đánh giá của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 53 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Huỳnh Kiều P và anh Lê Văn G là vợ chồng.
- Về án phí: Chị Huỳnh Kiều P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị Huỳnh Kiều P đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004910 ngày 04/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí.
- Án xử sơ thẩm công khai, đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
|
Nơi Nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Nam |
Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 03/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn, con chung
- Số bản án: 40/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Áp dụng khoản khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 53 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Huỳnh Kiều P và anh Lê Văn G là vợ chồng. 2. Về án phí: Chị Huỳnh Kiều P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị Huỳnh Kiều P đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004910 ngày 04/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí. 3. Án xử sơ thẩm công khai, đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
