|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
|
|
|
Bản án số: 40/2024/KDTM-ST Ngày: 28/6/2024 V/v Tranh chấp hợp đồng kinh tế. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Nhã.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Kính.
- Ông Phan Thanh Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Vân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 24/2023/TLST-KDTM ngày 20 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng kinh tế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST - DS ngày 02 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 74/2024/QÐST-KDTM ngày 31 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn : Công ty CP C
Địa chỉ: A V, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng T; Địa chỉ: Số G ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Bình Dương; là người đại diện theo ủy quyền - Văn bản ủy quyền ngày 23/11/2022.
Bị đơn: Công ty TNHH Đ.
Địa chỉ: Số A Đường C, Khu dân cư Ứ, Phường G, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Trần Hữu T1; Địa chỉ: A Đường số A, Áp B, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo pháp luật.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đại diện nguyên đơn Công ty Cổ phần C (gọi tắt là Công ty C) trình bày:
Ngày 16/01/2021. Công ty C và Công ty TNHH Đ (gọi tắt là Công ty Đ) ký kết hợp đồng kinh tế số 05/11/2021/HĐQVĐSP-TLGROUP ngày 16/11/2021 và phụ lục hợp đồng kèm theo về việc: cung cấp và lắp đặt hệ thống điều hoà không khí Daikin cho công trình xây dựng của Công ty Đ.
Ngày 23/7/2022, thực hiện theo hợp đồng, Công ty C đã hoàn thành việc cung cấp và lắp đặt hệ thống điều hoà không khí thương hiệu Daikin cho công trình xây dựng của Công ty Đ và các bên đã tiến hành nghiệm thu. Tuy nhiên Công ty Đ đã trì hoãn việc thanh toán tiền cho Công ty C.
Ngày 31/5/2023, các bên đã tiến hành lập biên bản xác nhận công nợ với nội dung Công ty Đ xác nhận còn nợ Công ty C số tiền 161.481.850 đồng.
Nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc Công ty Đ thanh toán trọn một lần toàn bộ số nợ là 161.481.850 đồng.
Đối với bị đơn Công ty Đ Tòa án đã tiến hành thông báo thụ lý vụ án và đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đương sự đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng đương sự không đến, do đó không có lời khai của đương sự tại tòa.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn chấp hành tốt pháp luật tố tụng khi tham gia tố tụng dân sự; bị đơn chấp hành chưa tốt pháp luật tố tụng khi tham gia tố tụng dân sự. Về phần nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quá trình tố tụng
Xét đơn khởi kiện của nguyên đơn thì đây là vụ án tranh chấp hợp đồng kinh tế; do bị đơn có trụ sở tại Quận H, nên theo qui định tại các Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Xét nguyên đơn có đề nghị không tiến hành hòa giải nên căn cứ vào Điều 207, Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được, Thẩm phán tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải.
Xét bị đơn đã được Tòa án triệu tập tham dự phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà đương sự vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đã được đăng ký thay đổi lần thứ 3 ngày 19/12/2023 của Công ty TNHH Đ ghi nhận địa chỉ trụ sở chính của Công ty tại Số A Đường C, Khu dân cư Ứ, Phường G Quận H Thành phố Hồ Chí Minh và người đại diện theo pháp luật của công ty là ông Trần Hữu T1 chỗ ở hiện tại là 153 Đường số A, Ấp B, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả xác minh của Công an xã B, huyện B xác định ông T1 không thực tế cư ngụ tại địa chỉ trên và không ghi nhận địa chỉ nào khác của ông T1. Do đó, Toà án xác định địa chỉ cuối cùng của Công ty TNHH Đ là tại Số A Đường C, Khu dân cư Ứ, Phường G Quận H Thành phố Hồ Chí Minh và địa chỉ của người đại diện theo pháp luật của Công ty là ông Trần Hữu T1 là 153 Đường số A, Ấp B, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về các yêu cầu của đương sự
Xét Hợp đồng kinh tế số 05/11/2021/HĐQVĐSP-TLGROUP ngày 16/11/2021 và phụ lục hợp đồng kèm theo về việc: cung cấp và lắp đặt hệ thống điều hoà không khí Daikin được ký kết phù hợp với các quy định của pháp luật. Vì vậy, hợp đồng và phụ lục hợp đồng này là cơ sở để giải quyết các tranh chấp giữa hai công ty trong giao dịch này.
Ngày 23/7/2022, thực hiện theo hợp đồng, Công ty C đã hoàn thành việc cung cấp và lắp đặt hệ thống điều hoà không khí thương hiệu Daikin cho công trình xây dựng của Công ty Đ và các bên đã tiến hành nghiệm thu. Tuy nhiên Công ty Đ đã trì hoãn việc thanh toán tiền cho Công ty C và các bên đã tiến hành lập biên bản xác nhận công nợ vào ngày 31/5/2023. Như vậy bị đơn đã vi phạm thời hạn thanh toán tại Điều 4 của Hợp đồng và vi phạm quy định tại Điều 50, Điều 55 Luật thương mại 2005.
Xét Biên bản xác nhận công nợ ngày 31/5/2023, Công ty Đ xác nhận còn nợ Công ty C số tiền 161.481.850 đồng nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán trọn một lần toàn bộ số nợ là 161.481.850 đồng là có căn cứ và được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bị buộc phải có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí theo qui định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 30, Điều 35, Điều 39, Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 50, Điều 55 của Luật thương mại 2005; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần C đối với Công ty TNHH Đ.
Buộc Công ty TNHH Đ phải trả cho Công ty Cổ phần C số tiền còn nợ là 161.481.850 đồng (Một trăm sáu mươi mốt triệu bốn trăm tám mươi mốt ngàn tám trăm năm mươi đồng). Thanh toán trọn một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), nếu bên phải thi hành án không thi hành đúng như án đã tuyên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 8.074.092 đồng (Tám triệu không trăm bảy mươi bốn ngàn không trăm chín mươi hai đồng), Công ty TNHH Đ phải chịu.
Trả lại cho Công ty cổ phần C số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.037.046 đồng (Bốn triệu không trăm ba mươi bảy ngàn không trăm bốn mươi sáu đồng) theo biên lai thu tiền số 0036160 ngày 20/9/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 8.
- Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tuấn Nhã |
Bản án số 40/2024/KDTM-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng kinh tế
- Số bản án: 40/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng kinh tế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
