|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số:40/2024/HNGĐ-ST Ngày 27/9/2024 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Ngà
-
Các hội thẩm nhân dân
- Bà Hoàng Thị Chính
- Ông Phạm Anh Tuấn
-
- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng
-
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Lương Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 61/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 43/2024/QÐST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Chị Bùi Phương D, sinh năm 1989; nơi cư trú: Số nhà B - C đường L, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
-
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1990; nơi ĐKHKTT: Xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số nhà B -30 đường L, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện đề ngày 24 tháng 6 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Bùi Phương D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Phương D và anh Nguyễn Thanh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng vào ngày 27/06/2018. Sau
1
khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được hơn 3 năm và có 02 con chung. Sau đó từ cuối năm 2022, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống và cách nhìn nhận cuộc sống không phù hợp, anh T thường xuyên chơi bời, không chăm lo đến vợ con, do đó tình cảm vợ chồng rạn nứt, thường xuyên cãi chửi nhau, không ai quan tâm đến cuộc sống chung.
Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài nên chị D có làm đơn xin ly hôn với anh T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Quang S, sinh ngày 8/7/2023 và cháu Nguyễn Xuân B, sinh ngày 18/9/2019. Ly hôn, chị D đề nghị nuôi cả hai con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung: Chị D không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn là anh Nguyễn Thanh T: Không cung cấp lời khai cho Toà án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Phương D được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T. Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Quang S, sinh ngày 8/7/2023 và cháu Nguyễn Xuân B, sinh ngày 18/9/2019 cho chị Bùi Phương D nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con, việc chia tài sản chung: Chị Bùi Phương D không đề nghị giải quyết, anh T không có ý kiến gì cung cấp cho Toà án nên không xem xét giải quyết; Về án phí: Chị D phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Đây là vụ án về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung; bị đơn có nơi ở hiện tại tại phường T, quận K, thành phố Hải Phòng, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.
[2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng
2
vắng mặt không lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của các đương sự, tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, lời khai của gia đình chị D, tài liệu do Toà án thu thập đủ cơ sở xác định: Chị Bùi Phương D và anh Nguyễn Thanh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng vào ngày 27/06/2018. Theo quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quan hệ hôn nhân của chị Bùi Phương D và anh Nguyễn Thanh T là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn do nguyên nhân anh T thường xuyên chơi bời, không chăm lo đến vợ con, do đó tình cảm vợ chồng rạn nứt, thường xuyên cãi chửi nhau, không ai quan tâm đến cuộc sống chung. Xét thấy, tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho D được ly hôn với anh T.
[4] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Quang S, sinh ngày 8/7/2023 và cháu Nguyễn Xuân B, sinh ngày 18/9/2019. Ly hôn, chị D có nguyện vọng đề nghị được nuôi cả hai con chung.
Xét hai con chung hiện đang ở với mẹ và các cháu vẫn còn nhỏ, anh H hay vắng nhà, để đảm bảo sự phát triển tốt nhất về mọi mặt cho con chung, cần chấp nhận yêu cầu của chị D, giao 02 con chung cho mẹ nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung: Chị D không đề nghị giải quyết, anh T không có ý kiến gì cung cấp cho Toà án nên không xem xét giải quyết.
[7] Về án phí: Chị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn pháp luật quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 273, khoản 1 Điều 228 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
3
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 1, 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 6, Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
-
Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Phương D được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.
-
Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Quang S, sinh ngày 8/7/2023 và cháu Nguyễn Xuân B, sinh ngày 18/9/2019 cho chị Bùi Phương D nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
-
Về cấp dưỡng nuôi con, việc chia tài sản chung: Chị Bùi Phương D không đề nghị giải quyết, anh T không có ý kiến gì cung cấp cho Toà án nên không xem xét, giải quyết.
-
Về án phí: Chị Bùi Phương D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004873 ngày 10 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng. Chị Bùi Phương D đã nộp xong án phí ly hôn sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
4
|
Phạm Anh Tuấn |
Hoàng Thị Chính |
Phạm Thị Ngọc Ngà |
5
Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 40/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cho ly hôn
