Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN ĐỒ SƠN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HS-ST

Ngày 27-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Bùi Xuân Vinh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Khắc Quyết

Bà Đỗ Thị Viện

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Bình - Thư ký Toà án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Việt Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng; địa chỉ: Ngõ B đường N, tổ dân phố số I, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2024/TLST-HS ngày 04/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-HS ngày 11/9/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/HSST-QĐ ngày 24/9/2024, đối với bị cáo:

LƯU ĐÌNH VŨ, sinh ngày 20 tháng 01 năm 1969 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Đình Đ và bà Đinh Thị M (đều đã chết); bị cáo có vợ là Hoàng Thị L và có 02 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2000; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/6/2024; có mặt.

- Bị hại: Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1960; nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Người làm chứng: Ông Đỗ Văn B; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng cuối năm 2023, Lưu Đình V cho chị Phạm Hồng N, sinh năm 1988, nơi thường trú: số H C, phường H, quận H, Hải Phòng, nơi ở hiện tại: Phòng trọ phía sau nhà hàng G thuộc tổ C, khu I, phường H, quận Đ, Hải Phòng mượn một số bàn ghế nhựa để bán hàng nước phía sau nhà hàng G. Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1960, nơi thường trú và nơi ở hiện tại: tổ N, phường H, quận Đ, Hải Phòng là nhân viên bảo vệ của nhà hàng G thấy một số bàn ghế của chị N để cản trở chỗ để xe ô tô nên đã thu dọn và cất đi. Đến ngày 26/02/2024, N phát hiện thấy một số bàn ghế nhựa bị mất nên đã nói cho V biết. Qua kiểm tra C thì V thấy ông T là người đã lấy số bàn ghế này. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 27/02/2024, V nhìn thấy ông T đang ngồi uống nước với ông Đỗ Văn B, sinh năm 1963, nơi thường trú và nơi ở hiện tại: tổ B, phường H, quận Đ, Hải Phòng tại khu vực vỉa hè phía trước Nhà điều dưỡng Ban bảo vệ chăm sóc sức khoẻ cán bộ thành phố Hải Phòng thuộc tổ C, khu I, phường H, quận Đ, Hải Phòng. V đi đến ngồi trên ghế đối diện và nói với ông T trả lại bàn ghế cho mình nhưng ông T không trả còn nói sẽ tịch thu số bàn ghế này. Ông T thách thức V, giữa cả hai xảy ra mâu thuẫn. V dùng tay phải cầm chiếc ấm bằng sứ, hình trụ, màu trắng, cao 9,7 cm, đường kính 9,3 cm đang để trên bàn uống nước ném vào người ông T làm chiếc ấm trúng vào vùng gò má trái của ông T gây thương tích. Ông B can ngăn, V bỏ đi còn ông T được đưa đi Bệnh viện điều trị thương tích.

Ngày 03/3/2024, ông T đến Công an phường H, quận Đ trình báo sự việc; ngày 05/3/2024, anh Hoàng Trung K (là con trai ông T) giao nộp cho Công an phường H chiếc ấm V sử dụng để gây thương tích cho ông T.

Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 236 ngày 28/3/2024 của Trung tâm P: “tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân Hoàng Văn T tại thời điểm giám định là 15%, trong đó tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương vùng má - gò má trái gây nên là 06%, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương vùng gò má trái gây nên là 03%, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do dị vật má trái (10 dị vật) gây nên là 07%. Các thương tích trên có đặc điểm do vật có cạnh sắc hoặc tương đối sắc tác động trực tiếp gây nên”.

Vật chứng của vụ án: 01 ấm bằng sứ, hình trụ, màu trắng, cao 9,7 cm, đường kính 9,3 cm, đã bị nứt vỡ chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn quản lý.

Về trách nhiệm dân sự: Lưu Đình V đã bồi thường cho ông Hoàng Văn T 50.000.000 đồng, ông T không yêu cầu V phải bồi thường thêm.

Cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 04/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng đã truy tố Lưu Đình V về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 với tình tiết định khung quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như bản cáo trạng đã nêu; sau khi đã phân tích nội dung

vụ án, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lưu Đình V với mức án từ 30 (ba mươi) đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng về tội Cố ý gây thương tích.
  • - Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 ấm bằng sứ, hình trụ, màu trắng, cao 9,7 cm, đường kính 9,3 cm, đã bị nứt vỡ không còn giá trị sử dụng.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại 50.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên không xem xét.
  • - Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn đã truy tố là đúng. Bị cáo biết hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật, rất ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.1] Đối với người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, đã có lời khai đầy đủ, phù hợp với lời khai của bị cáo; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xác định, sự vắng mặt đó không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về tội danh và khung hình phạt:

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Do ông Hoàng Văn T có lấy một số bộ bàn ghế nhựa của Lưu Đình V, nên khoảng 19 giờ 30 phút ngày 27/02/2024, tại khu vực vỉa hè phía trước Nhà điều dưỡng Ban bảo vệ chăm sóc sức khoẻ cán bộ thành phố Hải Phòng, thuộc tổ dân phố C, khu I, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng, V có gặp và đòi nhưng ông T không trả dẫn đến mâu thuẫn, cãi nhau. Lưu Đình V đã dùng chiếc ấm bằng sứ (được xác định là hung khí nguy hiểm) ném vào gò má trái ông Hoàng Văn T làm ông T bị tỷ lệ tổn thương cơ thể là 15%. Như vậy đã đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

[3] Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn đã truy tố bị cáo như Cáo trạng là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt chính: Trên cơ sở xem xét toàn diện về khung hình phạt, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi "Cố ý gây thương tích" của bị cáo thuộc loại tội phạm nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo dùng hung khí nguy hiểm để gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ với lỗi cố ý trực tiếp nên cần phải xử lý nghiêm. Tuy nhiên, xét hành vi của bị cáo mang tính chất bộc phát, khi gây thương tích cho bị hại thì bị cáo đã ăn năn hối cải, đã bồi thường đầy đủ cho bị hại, bị hại cũng đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo có nơi cư trú ổn định rõ ràng. Bản thân và gia đình chấp hành tốt đường lối chính sách của nhà nước, có xác nhận của chính quyền địa phương nên cần xét cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự.

[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 ấm bằng sứ, hình trụ, màu trắng, cao 9,7 cm, đường kính 9,3 cm, đã bị nứt vỡ không còn giá trị sử dụng.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại 50.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên hội đồng xét xử không xét.

[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
  • Tuyên bố bị cáo Lưu Đình V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Xử phạt bị cáo Lưu Đình V 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 60 (Sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự như sau:

Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.

Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  • - Huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Lưu Đình V theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 ấm bằng sứ, hình trụ, màu trắng, cao 9,7 cm, đường kính 9,3 cm (Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/9/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ và Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng).

  • - Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - VKSND quận Đồ Sơn;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - TAND TP Hải Phòng;
  • - Cơ quan CSĐT Công an quận Đồ Sơn;
  • - Cơ quan THAHS Công an quận Đồ Sơn;
  • - Chi cục THADS quận Đồ Sơn;
  • - Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
  • - Công an TP Hải Phòng (PC10);
  • - UBND phường Vạn Hương, quận Đồ Sơn, Hải Phòng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Xuân Vinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 40/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lưu Đình Vũ - Cố ý gây TT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger