Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN LẠC

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 27/9/2024

V/v tranh chấp: “Ly hôn, giao nuôi con chung"

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC - TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Hưng.

  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Thuần và bà Trần Thị Thanh Tâm

  • - Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 98/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1986; Có mặt

  • HKTT: Thôn G, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc;

  • Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc;

  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Đức G, sinh năm 1984; Vắng mặt

  • Địa chỉ: Thôn G, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày:

Chị và anh Nguyễn Đức G đăng ký kết hôn với nhau ngày 03/01/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, kết hôn là hoàn toàn tự nguyện không bị ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chị về sống chung với gia đình anh G tại thôn G L, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình chung sống, tình cảm vợ chồng thời gian đầu đầm ấm, hạnh phúc. Đến năm 2023, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh G không chịu khó làm ăn, ham chơi dẫn đến nợ nần. Chị đã nói chuyện với anh G rất nhiều lần nhưng anh G không thay đổi, dẫn đến vợ chồng xích mích to tiếng cãi chửi nhau. Tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, không ai quan tâm đến ai. Vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2023. Đến nay, chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn giữa chị và anh G không thể giải quyết được nên đề nghị Tòa án cho chị ly hôn anh Nguyễn Đức G.

Về con chung: Chị và anh G có 02 con chung là cháu là Nguyễn Như T, sinh ngày 29/11/2014; Cháu Nguyễn Trung H1, sinh ngày 14/9/2017, hiện nay cả hai con đang ở với chị. Ly hôn, chị H đề nghị được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung. Chị không yêu cầu anh G phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Hiện nay, chị đang là giáo viên trường tiểu học Y; thu nhập ổn định; chị và các con đang ở nhà thuê ở xã L để tiện cho công việc của chị và học tập của các con.

Về tài sản chung, tài sản riêng: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về vay nợ, công sức, đất canh tác: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Đức G vắng mặt tại phiên tòa. Quá trình Tòa án giải quyết, Tòa án đã triệu tập anh G rất nhiều lần đến Tòa án giải quyết vụ án nhưng anh G không đến Tòa và không có lý do nên không có ý kiến.

* Xác minh tại xã Y thể hiện: Anh G và chị H đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Vào sổ đăng ký số 01/2013 ngày 03/01/2013.

Về tình cảm: Sau khi kết hôn xong chị H về làm dâu và ăn ở chung cùng gia đình anh G. Tình cảm vợ chồng ban đầu đầm ấm, hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn như thế nào thì địa phương không biết, chỉ nghe dư luận nói do anh G không chịu khó làm ăn, nợ nần nhiều dẫn đến chị H chán nản và đi thuê nhà riêng ở xã L sinh sống.

Về con chung: Anh G và chị H có 02 con chung là Nguyễn Như T, sinh ngày 29/11/2014; cháu Nguyễn Trung H1, sinh ngày 14/9/2017. Anh G, chị H ly hôn đề nghị Tòa án xem xét điều kiện chỗ ăn ở và điều kiện kinh tế của hai bên để giao con nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho các con phát triểu toàn diện về thể chất và trí tuệ. Hiện tại anh G làm nghề tự do, thu nhập như thế nào địa phương không nắm được. Chị H hiện đang là giáo viên trường tiểu học Y, thu nhập của chị ổn định.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức, đất canh tác: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Hiện tại anh G có nơi cư trú tại thôn G, xã Y; anh thỉnh thoảng vẫn có mặt tại địa phương còn lý do vì sao anh không đến tòa làm việc thì địa phương không rõ.

Kiểm sát viên tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định, bị đơn không đến Tòa án để làm việc. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị H, xử cho chị Lê Thị H ly hôn anh Nguyễn Đức G; Về con chung: Giao cháu Nguyễn Như T, sinh ngày 29/11/2014 cho anh G nuôi dưỡng, chăm sóc; cháu Nguyễn Trung H1, sinh ngày 14/9/2017 cho chị H chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục (hiện nay cả hai cháu đang ở với chị H); anh G, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau và có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Về án phí: chị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị H có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình, anh G hiện trú tại thôn G L, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với anh Nguyễn Đức G nhưng anh G vẫn không đến Tòa án để làm việc. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiếp tục đưa vụ án ra xét xử.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ tình cảm vợ chồng: Chị Lê Thị H và anh Nguyễn Đức G được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc đây là cuộc hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị H về ăn ở chung cùng anh G và gia đình. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng trong quan điểm sống và cách làm ăn kinh tế. Anh G không chịu khó làm ăn và không quan tâm đến chị H và các con, dẫn đến tình cảm vợ chồng lạnh nhạt dần. Chị H đã nhiều lần động viên, khuyên bảo nhưng anh G không thay đổi. Đến cuối năm 2023, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Từ khi sống ly thân đến khi Tòa án giải quyết, xét xử, giữa hai bên không có sự quan tâm, hàn gắn tình cảm với nhau nữa. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh G nhiều lần, nhưng anh G không đến Tòa án làm việc không có lý do. Xét thấy, hôn nhân của anh G và chị H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị H, cho chị H ly hôn anh G là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị H và anh G có 02 con chung là cháu Nguyễn Như T, sinh ngày 29/11/2014; cháu Nguyễn Trung H1, sinh ngày 14/9/2017, hiện nay cả hai con đang ở với chị H. Ly hôn chị H đề nghị được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai cháu, không yêu cầu anh G phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Cháu T nguyện vọng xin ở với chị H. Xét thấy: Hiện tại cả chị H và anh G đều có thu nhập và chỗ ăn ở đảm bảo cho sự pháp triển sinh hoạt, học tập của cháu T và cháu H1. Do vậy để đảm bảo quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con cái nên cần giao cháu T cho anh G nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; giao cháu H1 cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với các Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình. Anh G, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh G vắng mặt nên không có yêu cầu đề nghị gì, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Chị H xin ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[5]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ vợ chồng: Cho chị Lê Thị H được ly hôn anh Nguyễn Đức G.
  2. Về con chung: Giao cho chị Lê Thị H được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Nguyễn Trung H1, sinh ngày 14/9/2017; giao cho anh Nguyễn Đức G nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Nguyễn Như T, sinh ngày 29/11/2014 (hiện cả hai con đang ở cùng chị H). Anh G, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: 0003287 ngày 20 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc. Chị H đã thực hiện xong án phí.
  4. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Nguyễn Đức G có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND huyện Yên Lạc;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Lạc;
  • - Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - UBND xã Yên Phương;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Duy Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC - TỈNH VĨNH PHÚC về ly hôn, giao nuôi con chung

  • Số bản án: 40/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, giao nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC - TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị H xin ly hôn anh G do mâu thuẫn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger