Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG NINH

TỈNH QUẢNG BÌNH


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 40/2024/HS-ST

Ngày: 27 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Cao Thế và ông Mai Đức Việt

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Mỹ Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Hiếu, Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với:

Bị cáo Võ Văn A, sinh ngày 30 tháng 3 năm 2003 tại tỉnh Quảng Bình. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: thôn L, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 03/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Con bà: Võ Thị L, sinh năm: 1972; Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 28/3/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Võ Văn A: Bà Nguyễn Thị Hương T, sinh năm 1976 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Q, địa chỉ: Số A L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình;

Bị hại: Anh Trần Trung K, sinh năm 1995, địa chỉ: Tổ B, cụm D, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Minh S, sinh năm 1990, địa chỉ: 3 C, phường G, quận N, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 30/01/2023, Võ Văn A (sinh năm 2003, trú tại thôn L, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình) đã truy cập trái phép vào tài khoản mạng xã hội facebook “Trần Minh S” của ông Trần Minh S (sinh năm 1990, trú tại phường G, quận N, thành phố Hải Phòng). Sau đó, Võ Văn A dùng tài khoản facebook của ông S, giả làm ông S để nhắn tin hỏi muợn tiền của các những người đã kết bạn với tài khoản facebook "Trần Minh S” thông qua ứng dụng Messenger nhằm chiếm đoạt tài sản.

Quá trình thực hiện hành vi, Võ Văn A đã nhắn tin, hỏi mượn tiền đối với ông Trần Trung K (tài khoản facebook: “Trần Trung K”, sinh năm 1995, trú tại phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng). Do có mối quan hệ bạn bè với nhau, lại nghĩ là ông Trần Minh S đang hỏi mượn tiền mình, nên ông Trần Trung K đã sử dụng tài khoản ngân hàng T1 số 19035493258019 tên TRAN TRUNG KIEN của ông K để chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng M số 13388388888 tên VO VAN ANH mà Võ Văn A cung cấp tổng cộng 02 (hai) lần, trong đó lần 1: ông K đã chuyển 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) và lần 2: ông K đã chuyển 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng). Sau khi chiếm đoạt được số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) trên, Võ Văn A đã sử dụng hết để tiêu xài cá nhân.

Về việc thu giữ vật chứng, đồ vật, tài liệu:

- Ngày 24/01/2024, ông Trần Trung K giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Q các tài liệu gồm: 06 (sáu) tờ giấy A4 ghi lại hình ảnh tài khoản Facebook “Trần Minh S” của ông Trần Minh S, hình ảnh tin nhắn trên ứng dụng Messenger và hình ảnh giao dịch chuyển tiền, có chữ ký xác nhận của ông Trần Trung K.

- Ngày 29/02/2024, ông Trần Minh S giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Q tài liệu gồm: 01 (một) tờ giấy A4 ghi lại hình ảnh tài khoản Facebook “Trần Minh S” của ông Trần Minh S, có chữ ký xác nhận của ông Trần Minh S.

- Ngày 24/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q tạm giữ từ Võ Văn A:

+ 01 (một) điện thoại di động OPPO A57 màu đen, kiểu máy: CPH2407, IMEI 1: 869945063805192, IMEI 2: 869945063805184 máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong;

+ 01 (một) điện thoại di động IPHONE 13 ProMax màu vàng, số máy: MLLD3VN/A, số seri: N6K6XHQK3J, IMEI: 359456495449770, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong.

- Ngày 19/7/2024, Võ Văn A tự nguyện giao nộp 1.000.000 đồng (một triệu đồng) để bồi thường thiệt hại.

Về dân sự: Bị hại ông Trần Trung K yêu cầu Võ Văn A bồi thường lại toàn bộ số tiền bị chiếm đoạt. Bị cáo Võ Văn A đã tự nguyện giao nộp 1.000.000 đồng (một triệu đồng) để bồi thường thiệt hại tại Cơ quan điều tra.

Ông Trần Minh S là chủ nhân của các tài khoản facebook mà Võ Văn A truy cập trái phép đã lấy lại được tài khoản, không bị thiệt hại gì và không yêu cầu gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số: 32/CT-VKS ngày 26 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Võ Văn A ra trước Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh để xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh tại phiên tòa trình bày lời luận tội, chứng minh và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Văn A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, p, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự và các Điều 584, 585, 586 của Bộ luật Dân sự; đề nghị xử phạt bị cáo Võ Văn A từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động OPPO A57 màu đen, kiểu máy: CPH2407, IMEI 1: 869945063805192, IMEI 2: 869945063805184 máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong, do bị cáo thừa nhận đây là công cụ, phương tiện bị cáo dùng để thực hiện phạm tội.

Đối với 01 (một) điện thoại di động IPHONE 13 ProMax màu vàng, số máy: MLLD3VN/A, số seri: N6K6XHQK3J, IMEI: 359456495449770, máy đã qua sử dụng, không liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị trả lại tài sản này cho bị cáo Võ Văn A.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị buộc Võ Văn A phải bồi thường cho anh Trần Trung K số tiền 5.000.000 đồng, bị cáo A đã nộp 1.000.000 đồng, nên tiếp tục bồi thường 4.000.000 đồng cho bị hại.

Về án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà, bị cáo Võ Văn A thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ý kiến của bà Nguyễn Thị Hương T, người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, hình phạt. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh đặc biệt của bị cáo Võ Văn A để khoan hồng cho bị cáo, cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Cơ quan Điều tra, cơ quan Truy tố đã thực hiện đúng chức năng, thẩm quyền, ban hành các quyết định tố tụng theo đúng trình tự pháp luật quy định.

Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được Cơ quan Điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Sự vắng mặt của những người này không gây ảnh hưởng đến việc xác định tội danh và quyết định hình phạt đối với bị cáo. Căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Xem xét, đánh giá hành vi của bị cáo bị truy tố:

Tại phiên toà bị cáo Võ Văn A đã khai nhận toàn bộ hành vi bị cáo thực hiện như sau: Vào ngày 30/01/2023, Võ Văn A đã truy cập trái phép vào tài khoản mạng xã hội facebook “Trần Minh S” của ông Trần Minh S. Sau khi vào được tài khoản của ông S, thông qua ứng dụng Messenger, Võ Văn A giả danh ông S nhắn tin hỏi muợn tiền của những người đã kết bạn với tài khoản facebook "Trần Minh S” nhằm chiếm đoạt tài sản. Trong đó, Võ Văn A đã nhắn tin, hỏi mượn tiền đối với ông Trần Trung K tài khoản facebook: “Trần Trung K” làm cho ông K tin tưởng đúng ông Trần Minh S đang hỏi mượn tiền mình nên đã sử dụng tài khoản ngân hàng T1 số 19035493258019 tên TRAN TRUNG KIEN của ông K để chuyển tiền vào tài khoản số 13388388888 tên VO VAN ANH tại ngân hàng M, do Võ Văn A nhắn tin cung cấp. Tổng cộng ông K chuyển khoản 02 (hai) lần trong ngày 30/01/2024 với số tiền lần lượt là 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) và 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng). Sau khi chiếm đoạt được số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) trên, Võ Văn A đã sử dụng để tiêu xài cá nhân hết.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Bị cáo Võ Văn A là người có năng lực hành vi trách nhiệm hình sự; đã cố tình xâm nhập vào tài khoản mạng xã hội facebook của ông Trần Minh S, giả danh ông S nhắn tin cho bạn bè ông S để mượn tiền, với thủ đoạn gian dối này, bị cáo tạo được lòng tin để bị hại tự chuyển tiền vào tài khoản của mình nhằm chiếm đoạt tài sản. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà pháp luật bảo vệ, đã đủ yếu tố cầu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã truy tố và kết luận của Kiểm sát viên phát biểu luận tội tại phiên tòa đối với bị cáo Võ Văn A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có cơ sở.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Võ Văn A không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và đã tự nguyện nộp 1.000.000 đồng tại cơ quan điều tra để bồi thường cho bị hại. Bị cáo là người khuyết tật nặng. Vì vậy cần xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, i, p, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để lượng hình phạt.

[4] Xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và áp dụng hình phạt:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây bất bình cho quần chúng nhân dân; gây tâm lý hoang mang cho người bị hại. Mặc dù bị cáo bị khuyết tật về nói nhưng bị cáo vẫn nhận thức được đầy đủ hành vi của mình là vi phạm pháp luật; bị cáo có sức khỏe và đủ khả năng lao động, nhưng không tự lao động kiếm thu nhập chân chính cho bản thân mà thực hiện hành vi phạm tội nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu xài cá nhân. Nhận thấy với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo cần phải xử phạt nghiêm khắc. Tuy nhiên, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, quá trình điều tra, truy tố xét xử bị cáo không có biểu hiện trốn tránh nghĩa vụ, vì vậy không cần thiết phải áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương là cũng đủ sức giáo dục, răn đe bị cáo giúp bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, vừa thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

Bị cáo là người khuyết tật nặng, hằng tháng được hưởng trợ cấp xã hội, không có công việc ổn định, Hội đồng xét xử xem xét để miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo trong thời gian chấp hành án.

[5] Đối với anh Trần Minh S là chủ tài khoản facebook "Trần Minh S”, quá trình điều tra đã làm rõ anh S không biết việc Võ Văn A xâm nhập dùng tài khoản của mình để nhắn tin mượn tiền anh K, đến nay anh S đã lấy lại được tài khoản, không yêu cầu gì, Hội đồng không có cơ sở để xem xét.

[6] Về vật chứng:

- Đối với 06 (sáu) tờ giấy A4 ghi lại hình ảnh tài khoản Facebook “Trần Minh S” của ông Trần Minh S, hình ảnh tin nhắn trên ứng dụng Messenger và hình ảnh giao dịch chuyển tiền, có chữ ký xác nhận của ông Trần Trung K do ông K giao nộp ngày 24/01/2024 và 01 (một) tờ giấy A4 ghi lại hình ảnh tài khoản Facebook “Trần Minh S” của ông Trần Minh S, có chữ ký xác nhận của ông Trần Minh S, do ông S giao nộp ngày 29/02/2024, là tài liệu chứng cứ cần được lưu giữ tại Hồ sơ vụ án.

- Tại phiên tòa bị cáo khai bị cáo đã dùng 01 (một) điện thoại di động OPPO A57 làm công cụ phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội, căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động OPPO A57 màu đen, kiểu máy: CPH2407, IMEI 1: 869945063805192, IMEI 2: 869945063805184 máy đã qua sử dụng.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động IPHONE 13 ProMax màu vàng, số máy: MLLD3VN/A, số seri: N6K6XHQK3J, IMEI: 359456495449770, máy đã qua sử dụng, không thể hiện liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự trả lại tài sản này cho bị cáo Võ Văn A.

[7] Về dân sự: Bị hại Trần Trung K yêu cầu bị cáo Võ Văn A trả lại số tiền 5.000.000 đồng mà anh K đã chuyển khoản cho bị cáo. Căn cứ Điều 584, 585, 586 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Võ Văn A phải bồi thường số tiền 5.000.000 đồng cho bị hại, bị cáo đã nộp 1.000.000 đồng, buộc bị cáo tiếp tục bồi thường 4.000.000 đồng cho bị hại.

[8] Án phí hình sự: Bị cáo là người khuyết tật thuộc đối tượng được miễn án phí, bị cáo có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí cho bị cáo đúng theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, p, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Võ Văn A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Xử phạt bị cáo Võ Văn A 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ.

Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính từ ngày cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản án.

Giao bị cáo Võ Văn A cho UBND xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình và gia đình bị cáo có trách nhiệm cùng phối hợp để quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tiếp tục lưu giữ tại Hồ sơ vụ án các tài liệu: 06 (sáu) tờ giấy A4 ghi lại hình ảnh tài khoản Facebook “Trần Minh S” của ông Trần Minh S, hình ảnh tin nhắn trên ứng dụng Messenger và hình ảnh giao dịch chuyển tiền, có chữ ký xác nhận của ông Trần Trung K do ông K giao nộp ngày 24/01/2024 và 01 (một) tờ giấy A4 ghi lại hình ảnh tài khoản Facebook “Trần Minh S” của ông Trần Minh S, có chữ ký xác nhận của ông Trần Minh S, do ông S giao nộp ngày 29/02/2024.

- Tịch thu, sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động OPPO A57 màu đen, kiểu máy: CPH2407, IMEI 1: 869945063805192, IMEI 2: 869945063805184 máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong; theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/8/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

- Trả lại cho bị cáo Võ Văn A 01 (một) điện thoại di động IPHONE 13 ProMax màu vàng, số máy: MLLD3VN/A, số seri: N6K6XHQK3J, IMEI: 359456495449770, máy đã qua sử dụng, không thể hiện liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự trả lại tài sản này cho bị cáo Võ Văn A.

3. Về dân sự: Buộc bị cáo Võ Văn A phải bồi thường số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) cho bị hại Trần Trung K. Bị cáo Võ Văn A đã nộp bồi thường 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) nên buộc bị cáo Võ văn A phải tiếp tục thực hiện việc bồi thường 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) cho bị hại Trần Trung K.

Ông Trần Trung K được nhận số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) mà bị cáo Võ Văn A đã nộp bồi thường, theo Ủy nhiệm chi số 08 lập ngày 10/9/2024 giữa Công an huyện Q và Chi cục thi hành án Dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tại Kho bạc Nhà nước huyện Q, tỉnh Quảng Bình và theo Biên lai thu tiền số 0003958 ngày 10/9/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

4. Về án phí Hình sự, Dân sự sơ thẩm: Miễn án phí cho bị cáo Võ Văn A.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/9/2024). Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Bình;
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Quảng Ninh;
  • - Cơ quan THAHS huyện Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Quảng Ninh;
  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - UBND xã Hiền Ninh, h.Quảng Ninh;
  • - Bị cáo; Bị hại, NLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Thị Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 40/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Văn Anh bị truy tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger