Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LAI VUNG

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 40/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 27-5-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

khi ly hôn


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Hoa Lư.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Thanh Cao

Bà Quang Kim Cúc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Phát Đạt là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 27 tháng 5 năm 2024 tại phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 66/2024/TLST-HNGĐ, ngày 28/02/2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 15 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 401/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 07/5/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Lê Thị Ngọc T, sinh năm: 2001. Địa chỉ: B, ấp T, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.(có mặt)
  2. Bị đơn: Huỳnh Thiên P, sinh năm: 2000. Địa chỉ: B ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 04/8/2023, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn Lê Thị Ngọc T trình bày:

* Về hôn nhân:

Chị T và anh P do mai mối đi đến hôn nhân, tổ chức đám cưới có đăng ký kết hôn ngày 08/12/2020, tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Sống chung thời gian đầu hạnh phúc nhưng đến khoảng 30/4/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân anh P không lo làm ăn chăm sóc cho vợ con, chỉ biết ham chơi bên ngoài, chị T nhiều lần khuyên nhưng anh P vẫn không thay đổi, vì thế mà tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách, chị T bỏ về cha mẹ ruột sống từ tháng 7 năm 2023 cho đến nay. Nay chị T xác định không còn tình cảm với anh P nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh P.

Về con chung: 01 người con là Huỳnh Phúc M, sinh ngày 30/9/2020, đang sống chung với chị T. Chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con không yêu cầu anh P cấp dưỡng.

Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.

Về nợ khi ly hôn: Không có, không yêu cầu giải quyết.

- Bị đơn Huỳnh Minh P1: Đã được Tòa án tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng vắng mặt lần 2 tại phiên tòa không có ly do và không có ý kiến phản bác yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Lê Thị Ngọc T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa Lê Thị Ngọc THuỳnh Thiên P, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”; thẩm quyền giải quyết Tòa án nhân dân huyện Lai Vung theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn Huỳnh Thiên P đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt tại các phiên hòa giải, phiên họp và phiên tòa không có lý do. Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định, vì vậy Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Lê Thị Ngọc THuỳnh Thiên P tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn ngày 08/12/2020, tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình sống chung vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cải nhau, hơn nữa anh P không lo lắng chăm sóc gì cho vợ, cuộc sống chị T một mình làm và lo cho con, chị T cũng đã nhiều lần khuyên anh P thay đổi để cùng nuôi dạy con nhưng anh P vẫn không thay đổi vì thế mà chị T và anh P đã xa nhau từ tháng 7 năm 2023 cho đến nay, kể từ khi xa nhau anh P không có đến để khuyên hay có thái độ hàn gắn tình cảm với chị T, tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài. Mặc dù, Tòa án đã kiên trì hòa giải nhưng chị T vẫn cương quyết ly hôn với anh P. Đối với anh P từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa anh P vẫn vắng mặt và không có ý kiến phản bác gì đối với yêu cầu của chị T. Điều đó cho thấy anh P đã từ bỏ cuộc hôn nhân này với chị T, không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của chị T và anh P là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được, cho nên việc chị T yêu cầu ly hôn là thỏa mãn các điều kiện theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, vì vậy Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T là có căn cứ.

[3] Về con chung: Có hai 01 người con là Huỳnh Phúc M, sinh ngày 30/9/2020, con chung đang sống với chị T, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con Huỳnh Phúc M. Yêu cầu này của chị T là có cơ sở bởi lẽ, từ khi xa nhau đến nay con sống chung với chị T được chị T nuôi dưỡng chu đáo, để ổn định cho Huỳnh Phúc M, Hội đồng xét xử cần giao con chung Huỳnh Phúc M, sinh ngày 30/9/2020 cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng chị T không yêu cầu anh P cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung: chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về nợ khi ly hôn: Không có, không xem xét giải quyết.

Anh Huỳnh Thiên P từ khi thụ lý vụ án đến nay mặc dù Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định trong đó có việc thông báo cho anh P biết việc yêu cầu nuôi con, tình trạng tài sản chung và nợ khi ly hôn nhưng anh P cũng không có ý kiến hay phản bác yêu cầu của chị T về vấn đề chị T được nuôi con và tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Nguyên đơn Lê Thị Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân gia đình là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: cho Lê Thị Ngọc T được ly hôn với Huỳnh Thiên P
  2. Về con chung: Giao con chung tên Huỳnh Phúc M, sinh ngày 30/9/2020 cho chị T nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng chị T không yêu cầu.

Chị Lê Thị Ngọc T cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Huỳnh Thiên P trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn.

  1. Về án phí và tạm ứng án phí sơ thẩm: Lê Thị Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân là 300.000 đồng . Được khấu trừ 300.000 đồng mà Lê Thị Ngọc T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số: 0001462, ngày 23/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. (Lê Thị Ngọc T đã nộp xong).

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (27/5/2024). Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.


Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh ĐT;
  • - VKSND huyện LV;
  • - CCTHADS huyện LV;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Tô Thị Hoa Lư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 40/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger