|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 40/2024/HNGĐ-ST Ngày 26-7-2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Mai
Bà Hà Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên tòa: Ông Bùi Tuấn Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 69/2024/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 564/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 639/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Bích N; nơi cư trú: Số G L, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số B N, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Anh Phạm Văn T; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số G L, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số H T, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 09 tháng 9 năm 2023 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Phạm Thị Bích N trình bày:
Chị và anh Phạm Văn T xây dựng gia đình với nhau năm 2011 và có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận H, Hải Phòng do hai bên tự nguyện, đến nay có 02 con chung. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ ngay sau khi cưới nhau được một năm. Nguyên nhân do cuộc sống hàng ngày vợ chồng luôn bất đồng quan điểm, thiếu sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, việc ai người ấy làm, tình cảm luôn tẻ nhạt, hai con chung do một mình chị chăm sóc và nuôi dưỡng. Mỗi tháng anh T đưa cho chị 5 triệu đồng nhưng không phải để chi tiêu gia đình mà tiền này phải tiết kiệm để mua nhà đất. Vợ chồng chị đã sống ly thân từ đầu năm 2023 đến nay, ngày 17/4/2023 chị và anh T xảy ra cãi vã xô xát, anh T đuổi chị ra khỏi nhà, thay thế các thiết bị khóa cửa không cho chị vào nhà. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã căng thẳng trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa. Vậy nên chị làm đơn này đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Phạm Thị Ngọc L, sinh ngày 29/7/2012 và Phạm Toàn Đ, sinh ngày 29/6/2015. Ly hôn, chị N có nguyện vọng nhận nuôi cả 02 con chung đến khi các con đủ 18 tuổi. Tuy nhiên qua quá trình hoà giải tại Toà án, anh chị thống nhất giao con Phạm Thị Ngọc L cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Phạm Toàn Đ cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; triệu tập chị Phạm Thị Bích N và anh Phạm Văn T đến Tòa án làm việc và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Tất cả các văn bản tố tụng của Tòa án anh T đã nhận được, có đến làm việc tại Toà án theo giấy triệu tập, tuy nhiên anh không trình bày bản tự khai, không cung cấp chứng cứ, không ký vào biên bản công khai chứng cứ và biên bản hoà giải của Toà án.
Anh T đã thể hiện quan điểm của mình tại Toà án như sau: Về quan hệ hôn nhân anh T xác định mâu thuẫn đã căng thẳng trầm trọng nên đề nghị Toà án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn. Về con chung anh đề nghị giao con Phạm Thị Ngọc L cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Phạm Toàn Đ cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung hai bên đã thống nhất được phương án phân chia tài sản nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết. Tuy nhiên do anh chị chưa bán được nhà, chưa giải quyết dứt điểm việc phân chia tài sản chung nên anh không ký vào các biên bản làm việc tại Toà án.
Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ đối với đại diện gia đình và đại diện chính quyền địa phương được biết: Chị N và anh T kết hôn năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận H, Hải Phòng, hai vợ chồng chung sống tại địa chỉ số H T, V, L, Hải Phòng. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn và đã ly thân từ tháng 4/2023 đến nay. Nay chị N xin ly hôn anh T đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên tham gia phát biểu ý kiến tại phiên tòa: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử thấy rằng, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Chị N và anh T kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn vì vậy là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, hiện tại đã sống ly thân nhau, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Phạm Thị Bích N được ly hôn anh Phạm Văn T; về con chung: Chị N và anh T có 02 con chung là Phạm Thị Ngọc L, sinh ngày 29/7/2012 và Phạm Toàn Đ, sinh ngày 29/6/2015. Ly hôn, đề nghị giao con Phạm Thị Ngọc L, sinh ngày 29/7/2012 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Phạm Toàn Đ, sinh ngày 29/6/2015 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con, hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung: Chị N không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét; về án phí: Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
[1] Đây là vụ án tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; theo đơn khởi kiện, trình bày của đương sự thể hiện: Anh Phạm Văn T; nơi cư trú tại: Số H T, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
[2] Bị đơn anh Phạm Văn T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất và đã được tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy HĐXX căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Phạm Văn T.
- Về quan hệ hôn nhân:
[3] Chị Phạm Thị Bích N và anh Phạm Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận H, thành phố Hải Phòng vào ngày 16/3/2012, đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp.
[4] Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ anh Phạm Văn T đến Tòa án làm việc, anh T có mặt nhưng không có văn bản trình bày về quan điểm của mình, không ký vào các biên bản làm việc tại toà án, qua đó cho thấy anh T cũng không muốn níu kéo và hàn gắn tình cảm với chị N. Qua các buổi làm việc tại Toà án, tuy anh T không ký vào biên bản làm việc nhưng đã thể hiện quan điểm của mình, xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Toà án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn. Đồng thời qua các tài liệu xác minh thu thập chứng cứ đã xác nhận cuộc sống chung giữa chị N và anh T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vã, bất hoà, mất đi tiếng nói chung, cuộc sống gia đình không có hạnh phúc. Hiện tại chị N và anh T đã sống ly thân, không còn sự chia sẻ, quan tâm đến nhau. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị N và anh T trên thực tế đã không còn, mâu thuẫn thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bởi vậy chị N yêu cầu được ly hôn anh T là phù hợp với thực tế, cần được chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về con chung:
[5] Chị N và anh T có hai con chung là Phạm Thị Ngọc L, sinh ngày 29/7/2012 và Phạm Toàn Đ, sinh ngày 29/6/2015. Qua các buổi làm việc tại Toà án, hai bên đã thống nhất chị N trực tiếp nuôi cháu L, anh T trực tiếp nuôi cháu Đ. Vì vậy việc chị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Thị Ngọc L và đề nghị giao cháu Phạm Toàn Đ cho anh T nuôi là phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế, phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.
[6] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết;
- Về tài sản chung:
[7] Chị N không có yêu cầu nên đề nghị HĐXX không xem xét;
- Về án phí:
[8] Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Bích N và anh Phạm Văn T.
-
Về nuôi con chung: Giao con chung là Phạm Thị Ngọc L, sinh ngày 29/7/2012 cho chị Phạm Thị Bích N trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung là Phạm Toàn Đ, sinh ngày 29/6/2015 cho anh Phạm Văn T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Phạm Thị Bích N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước. Số tiền này chị N đã nộp đủ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005843 ngày 24 tháng 4 năm 2024.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Hà |
Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 40/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn
