Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BA ĐỒN

TỈNH QUẢNG BÌNH

Bản án số: 40/2024/HS-ST

Ngày 25 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Hữu Tình

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Quốc Đồng và bà Trần Thị Ngọc Lan

Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Như Bình - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Hoài Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HS ngày 13/9/2024, đối với các bị cáo:

  1. Hoàng Anh H, sinh ngày 08/3/2001 tại: thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn P, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Ngọc L và bà Nguyễn Thị H1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2024 cho đến nay. Theo Lệnh trích xuất, bị cáo có mặt tại phiên toà.
  2. Hoàng Ngọc P, sinh ngày 22/12/1998 tại: thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn P, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Ngọc D và bà Ngô Thị H2; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; quá trình nhân thân: Tháng 6/2017, bị Công an thị xã B, tỉnh Quảng Bình xử phạt hành chính về hành vi “Đánh nhau”. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2024 cho đến nay. Theo Lệnh trích xuất, bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Ngọc L, sinh năm 1972; nơi cư trú: thôn P, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 11/06/2024, khi đang cùng nhau ngồi nhậu tại quán “Cậu Cả” thuộc xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình thì Hoàng Anh HHoàng Ngọc P rủ nhau góp tiền mua ma túy về sử dụng. Do P không mang theo tiền nên sau khi đồng ý cùng H mua ma tuý về sử dụng thì cả hai thống nhất dùng số tiền 1.000.000 đồng của H để mua ma tuý về sử dụng, sau đó P sẽ trả lại cho H 500.000 đồng. Đến khoảng 00 giờ 20 phút ngày 12/06/2024, sau khi ăn nhậu xong, P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 73N8 - 8508 chở H đi tìm mua ma túy. Khi đi đến đoạn đường liên thôn thuộc thôn V, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình thì gặp một người đàn ông không rõ lai lịch đang đứng bên đường. H dò hỏi rồi mua được từ người đàn ông này 01 gói giấy bạc, bên trong chứa 16 viên ma tuý tổng hợp dạng hồng phiến với giá 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, H cất giấu ma túy ở lòng bàn tay phải, còn P điều khiển xe mô tô chở H đi tìm nơi để sử dụng. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn H, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình thì bị Công an xã Q phát hiện nghi vấn, nên yêu cầu dừng phương tiện để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, H vứt gói giấy bạc chứa ma túy ra phía sau xe mô tô khoảng 01m. Công an xã Q đã tiến hành kiểm tra và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Vật chứng thu giữ được tại hiện trường khi bắt quả tang gồm: 15 viên nén hình tròn và 02 mảnh vỡ hình bán nguyệt, dạng thuốc tân dược màu hồng được bọc lại trong 01 gói giấy bạc thu giữ được từ H và P; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE biển kiểm soát 73N8 - 8508, sơn màu đỏ - xám - đen, xe cũ đã qua sử dụng. Quá trình điều tra, đã xác định được xe mô tô này thuộc sở hữu của ông Hoàng Ngọc L (Bố đẻ của Hoàng Anh H), việc bị cáo H mượn xe đi để thực hiện hành vi phạm tội ông L không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã xử lý trả lại xe mô tô nói trên cho ông L.

Tại Kết luận giám định số 631/KL - KTHS ngày 15/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu ký hiệu A gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,455g. Xác định M nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ về việc “Quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất".

Tại bản Cáo trạng số 36/CT - VKSBĐ ngày 10 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn đã truy tố các bị cáo Hoàng Anh HHoàng Ngọc P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Hoàng Anh HHoàng Ngọc P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Anh H và bị cáo Hoàng Ngọc P mỗi bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù. Về vật chứng của vụ án: Số ma túy thu giữ của Hoàng Anh HHoàng Ngọc P, sau khi đã trích gửi đi giám định thì số còn lại là 1,173g chất ma túy Methamphetamine. Đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự để tịch thu tiêu hủy.

Các bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và nhất trí với tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn đã truy tố đối với các bị cáo nên không tranh luận gì.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa, các bị cáo Hoàng Anh HHoàng Ngọc P đã khai nhận toàn bộ hành vi mà các bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn đã truy tố và lời luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa. Do các bị cáo nghiện ma túy từ trước nên mặc dù biết các chất ma túy đều bị pháp luật Việt Nam nghiêm cấm tàng trữ, nhưng các bị cáo vẫn tìm mua và tàng trữ 16 viên nén màu hồng, được xác định là chất ma túy Methamphetamine có khối lượng 1,455g với mục đích để sử dụng. Xét thấy, diễn biến hành vi phạm tội các bị cáo khai nhận phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, đã có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo

Hoàng Anh HHoàng Ngọc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và quá trình nhân thân thấy rằng:

Tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm trực tiếp đến các quy định của Nhà nước trong việc quản lý, kiểm soát các chất kích thích, gây nghiện mà nguy hại hơn, việc các bị cáo sử dụng ma túy sẽ làm cho các bị cáo lâm vào tình trạng lệ thuộc vào ma túy, gây hoang tưởng và ảo giác thần kinh có thể dẫn đến thực hiện các hành vi nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các căn bệnh xã hội và các loại tội phạm khác. Các bị cáo đều là những người đã trưởng thành, có nhận thức đầy đủ để biết được tác hại của các chất ma túy nhưng vẫn lén lút mua, tàng trữ để sử dụng, hành vi của các bị cáo cho thấy các bị cáo là đối tượng có ý thức coi thường pháp luật. Bị cáo P là đối tượng có nhân thân xấu, đã từng bị Công an thị xã B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau. Song, bị cáo P không lấy đó làm bài học, không tu dưỡng đạo đức, rút kinh nghiệm cho bản thân để sống tuân thủ pháp luật mà ngược lại tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trong vụ án này. Bị cáo H tuy có nhân thân tốt nhưng vẫn không làm chủ được bản thân, vẫn tích cực tham gia thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự để xử phạt nghiêm nhằm mục đích răn đe, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật đối với các bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung đối với các đối tượng khác.

[4] Xét vai trò của các bị cáo:

Trong vụ án này, có hai bị cáo cùng rủ nhau thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo thống nhất với nhau về việc sử dụng tiền để mua ma túy là do bị cáo H bỏ tiền ra mua để sử dụng chung, sau đó bị cáo P trả lại cho bị cáo H một nửa số tiền đi mua ma tuý (500.000 đồng) vì tại thời điểm đó chỉ có bị cáo H là có tiền. Qua đó thể hiện các bị cáo là đồng phạm trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội và vai trò của các bị cáo trong vụ án này là tương đương nhau.

[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận thức được việc làm sai trái của mình để có hướng khắc phục, sửa chữa lỗi lầm nên các bị cáo H và P đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt áp dụng:

Hội đồng xét xử xét thấy, cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và hậu quả mà các bị cáo đã gây ra nhằm cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để có điều kiện tiếp tục giáo dục, cải tạo bị cáo tiến bộ, sớm trở lại là công dân lương thiện, sống có ích cho gia đình và xã hội.

[7] Về xử lý vật chứng:

Xét thấy, việc thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu là ông Hoàng Ngọc L 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, sơn màu đỏ - xám - đen biển kiểm soát 73N8 - 8508 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã B là đúng quy định pháp luật.

Đối với số ma túy đã thu giữ, đây là loại chất Nhà nước cấm lưu hành, tàng trữ, nên áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí:

Các bị cáo Hoàng Anh HHoàng Ngọc P phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Liên quan trong vụ án có đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo H và vào rạng sáng ngày 12/6/2024, tuy nhiên quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B không xác định được lai lịch, địa chỉ nên chưa có căn cứ xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B sẽ tiếp tục điều tra, xác minh để xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: các bị cáo Hoàng Anh HHoàng Ngọc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:

    Xử phạt bị cáo Hoàng Anh H 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 12/6/2024.

    Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc P 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 12/6/2024.

Tuyên bố tiếp tục tạm giam các bị cáo Hoàng Anh HHoàng Ngọc P với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.

  1. Về vật chứng:

    Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư của Phòng KTHS Công an tỉnh Q, số: 631/KL - KTHS, bên ngoài ghi nội dung “A”, bên trong chứa 1,173g (Một phẩy một trăm bảy mươi ba gam) ma túy Methamphetamine sau giám định được gói bằng túi nilon trong suốt, đã được niêm phong bằng chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q (Vật chứng có đặc điểm mô tả như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn ngày 13/9/2024).

  2. Về án phí:

    Buộc các bị cáo Hoàng Anh HHoàng Ngọc P phải nộp mỗi bị cáo 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước.

  3. Về quyền kháng cáo:

    Án xử sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 25/9/2024)./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND tỉnh Quảng Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND thị xã Ba Đồn;
  • - Công an thị xã Ba Đồn;
  • - Chi cục THADS thị xã Ba Đồn;
  • - Bị cáo và người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Hữu Tình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 40/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Anh Huy cùng đồng phạm phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger