|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 40/2024/HS-ST Ngày 24 - 7 - 2024 |
- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Chi
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Vinh, Chủ tịch Hội đồng giáo xứ xã Hà Thạch, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
Bà Trần Thị Mai Dung, Giáo viên – Phó hiệu trưởng Trường THCS Thanh Minh, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hậu – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa:
Bà Vũ Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Trần Văn M, sinh ngày 28/9/2005, tại thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu G, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn D, sinh năm 1982 và bà Lê Thị L, sinh năm 1985; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ ngày 06/02/2024, chuyển tạm giam ngày 09/02/2024 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã P; Có mặt.
2. Hà Quý T, sinh ngày 22/6/2006, tại thị xã P, tỉnh Phú Thọ (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 7 tháng 15 ngày); Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu G, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Văn P, sinh năm 1978 và bà Trương Thị Bích T1, sinh năm 1981; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ ngày 06/02/2024, chuyển tạm giam ngày 09/02/2024 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã P; Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Hà Quý T:
Ông Hà Văn P, sinh năm 1978 (bố đẻ bị cáo T); Vắng mặt.
Bà Trương Thị Bích T1, sinh năm 1981 (mẹ đẻ bị cáo T); Có mặt.
Đều ở địa chỉ: Khu G, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
- Người bào chữa cho bị cáo Hà Quý T: Bà Bùi Thị Thanh N, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P; Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Trường G, sinh năm 2001, địa chỉ: Khu dân cư T, phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Quang V, sinh năm 2005, địa chỉ: Khu dân cư T, phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Vắng mặt.
- Nguyễn Thị Thu T2, sinh năm 2005, địa chỉ: Khu G, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Có mặt.
Người làm chứng: Ông Trần Văn D, sinh năm 1982, địa chỉ: Khu G, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Vụ án tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy:
Hồi 06 giờ ngày 06/02/2024 anh Trần Văn D, sinh năm 1982, nơi thường trú khu G, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ đến Công an thị xã P báo tin về tội phạm về việc ngày 16/01/2024 con trai anh D là Trần Văn M, sinh năm 2005, nơi thường trú khu G, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cùng một số đối tượng tại nhà ở của anh D. Anh D đã giao nộp cho Công an thị xã P 01 đĩa sứ hình tròn, màu trắng, trên lòng đĩa có in hoa văn nhiều màu sắc, trong lòng đĩa có chứa chất bột màu trắng. Sau khi anh D giao nộp chiếc đĩa sứ, cơ quan điều tra Công an thị xã P đã thu chất bột màu trắng còn bám dính trong lòng đĩa cho vào 01 túi nilon màu trắng, loại túi zip, ở đầu có khuy bấm bịt kín, đồng thời niêm phong chiếc đĩa sứ và túi nilon chứa chất bột màu trắng theo quy định pháp luật.
Sau khi tiếp nhận tin báo tố giác tội phạm của anh D đến Công an thị xã P, cùng ngày 06/02/2024 Trần Văn M đã đến Công an thị xã P để đầu thú khai báo về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Ketamine cho Hà Quý T, sinh ngày 22/6/2006, nơi thường trú khu G, xã H, thị xã P (lúc này T mới được 17 tuổi 7 tháng 15 ngày) và Nguyễn Trường G, sinh năm 2001, nơi thường trú khu dân cư T, phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ vào tối ngày 16/01/2024. M thừa nhận chiếc đĩa sứ có chứa chất bột màu trắng (là ma tuý Ketamine) mà ông D là bố đẻ M giao nộp cho Cơ quan điều tra là của M khi sử dụng trái phép chất ma túy. Tại phòng ngủ còn 01 túi ma túy Ketamine chưa sử dụng hết.
Căn cứ lời khai của Trần Văn M, ngày 06/02/2024, Cơ quan điều tra Công an thị xã P đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn M tại khu G, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Quá trình khám xét thu giữ 01 túi nilon màu trắng, loại túi Zíp, ở đầu có mép vuốt bịt kín, có viền kẻ màu xanh, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7, màu đen, đã qua sử dụng, có gắn 01 sim số 0877844329; 01 tai nghe không dây (dạng tai nghe bluetooth) màu trắng, đã qua sử dụng; 01 tai nghe có dây màu đen, đã qua sử dụng và số tiền 9.020.000 đồng. Cơ quan điều tra đã niêm phong 01 túi nilon màu trắng chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng thu giữ của M.
Ngày 06/02/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã ra quyết định trưng cầu giám định mẫu vật thu giữ của Trần Văn M. Tại Bản kết luận giám định số 243/KL-KTHS ngày 08/02/2024 của Phòng K công an tỉnh P kết luận:
Chất bột màu trắng bám dính trên bề mặt 01 đĩa sứ hình tròn, trên lòng đĩa có in hoa văn nhiều màu sắc trong Bì niêm phong số 01 gửi đến giám định là ma tuý, loại: Ketamine (Chất bột màu trắng ở dạng lượng vết nên không xác định được khối lượng trên cân phân tích 3 số).
Chất bột màu trắng chứa trong 01 túi nilon màu trắng, loại túi zip, ở đầu có mép vuốt bịt kín trong Bì niêm phong số 01 gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng là: 0,097 gam, loại: Ketamine.
Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa trong 01 túi nilon màu trắng, loại túi zip, ở đầu có mép vuốt bịt kín, có viền kẻ màu xanh trong Bì niêm phong số 02 gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng là: 0,508 gam, loại: Ketamine.
Ketamine là chất ma túy nằm trong Danh mục III, số thứ tự 40, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã làm rõ hành vi phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý của Trần Văn M cụ thể như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 16/01/2024 M cùng với T và G ngồi uống bia tại tầng 2 nhà M thuộc khu G, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Lúc này, M rủ T và G cùng nhau góp tiền mua nửa chỉ ma tuý Ketamine về sử dụng. T nói không có tiền rồi đi ra ngoài hút thuốc còn G không nói gì. Các đối tượng tiếp tục uống bia tại nhà M. Sau khi uống bia xong, M gọi điện thoại cho một người đàn ông tên H (không biết địa chỉ) hỏi mua nửa chỉ Ketamine với giá 1.500.000 đồng, H đồng ý và bảo M đến cổng chào ở xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ thì gọi lại cho H. Sau đó M điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA Dream màu nâu đã cũ (theo tem dán trên xe), xe không có biển kiểm soát của M và rủ G đi chơi. M chở G đi đến khu vực gần cổng chào xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ thì dừng xe, bảo G đứng ở xe mô tô đợi. Còn M gọi điện thoại cho H, theo sự chỉ dẫn của H đi đến cột mốc ở lề đường nhặt gói ma tuý Ketamine được gói bằng giấy màu trắng (loại giấy vệ sinh) rồi trả tiền mua ma túy bằng cách để 1.500.000 đồng ở dưới chân cột mốc nơi lấy gói ma túy. Sau khi mua được ma túy M tiếp tục chở G về nhà M. Khi về đến nhà M, thấy T đang ngồi chơi ở cửa ra vào tầng 1 nên M và G đi lên phòng ngủ của M ở tầng 2 (trước đây M ngủ ở phòng ngủ này nhưng sau đó chuyển xuống ngủ ở phòng ngủ tầng 1). Tại đây, M mở gói ma tuý vừa mua được ra thấy bên trong có 01 túi nilon màu trắng, loại túi Zíp, ở đầu có mép vuốt bịt kín, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma túy Ketamine. M xuống bếp lấy một đĩa sứ màu trắng, sau đó vào phòng ngủ của M có bạn gái M là Nguyễn Thị Thu T2, sinh năm 2005, nơi thường trú khu A, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ chung sống như vợ chồng đang ở trong phòng lấy 01 thẻ căn cước công dân của T2 được cất trong túi áo của T2 treo trên tường rồi mang lên phòng ngủ của M ở tầng 2. Để sử dụng ma túy, M đổ ma tuý Ketamine trong túi nilon ra đĩa, đốt nóng và dùng thẻ căn cước công dân để rằm nhỏ, nghiền nát (xào ke) Ketamine ở trong đĩa ra rồi kẻ thành từng đường. M lấy tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng của M cuốn thành một ống hút. Lúc này M gọi T lên để sử dụng ma túy. Khi T vào phòng ngủ của M thấy trên giường có đĩa sứ màu trắng, trong đĩa sứ có ma tuý Ketamine đã được xào xẵn và có ống hút được cuốn bằng tờ tiền 500.000 đồng. M sử dụng hai đường ma tuý Ketamine trước rồi đưa đĩa ma túy cho G, khi sử dụng xong và để đĩa Ketamine ở dưới giường rồi T tự cầm đĩa Ketamine lên để sử dụng. Các đối tượng đều sử dụng ma tuý Ketamine bằng cách dùng ống hút được cuốn bằng tờ tiền rồi hít ma tuý Ketamine qua mũi vào cơ thể. Sau khi T sử dụng ma túy xong thì để đĩa có chứa ma tuý Ketamine trên tải lúa trong phòng. Sau đó G tiếp tục sử dụng ma túy Ketamine thêm một lần nữa rồi cất đĩa ma tuý Ketamine xuống dưới gầm giường và cùng nhau nằm nghe nhạc. Còn T2 nằm ngủ ở phòng ngủ tầng 1 nên không biết các đối tượng sử dụng ma túy. Một lúc sau, bố đẻ của M là anh Trần Văn D nghi ngờ các đối tượng sử dụng ma túy nên gõ cửa để vào phòng M. Thấy vậy, T ra mở cửa phòng. Anh D nhìn thấy trên giường có 01 tờ tiền được cuốn thành hình ống hút, dưới gầm giường có 01 đĩa sứ, trong lòng đĩa có chứa chất bột màu trắng và 01 căn cước công dân bám dính chất bột màu trắng. Anh D nghi ngờ chất bột màu trắng là ma túy nên thu giữ chiếc đĩa sứ cùng chất bột màu trắng trong lòng đĩa rồi cất đi với mục đích để trình báo cơ quan công an. Sau đó T và G đi về còn M đem thẻ căn cước công dân của T2 trả lại vào túi áo T2, tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng dùng để cuốn thành ống hút, M đã dùng chi tiêu cá nhân hết, chiếc bật lửa để đốt đĩa, sau khi sử dụng ma tuý xong M vẫn dùng để châm thuốc lá đến khi hết ga thì M vứt đi. Tuy nhiên do bản công việc nên ngày 06/02/2024 anh D mới mang chiếc đĩa có chứa ma tuý Ketamine giao nộp và trình báo Công an thị xã P như đã nêu trên.
Về nguồn gốc số ma túy mà M, T và G sử dụng ngày 16/02/2024, M khai: Khoảng đầu tháng 1 năm 2024 M đi uống rượu ở quán (không nhớ tên quán) có quen biết một người đàn ông. Qua giới thiệu M biết tên H, có ma túy bán nên đã xin số điện thoại của H nhưng M không lưu trên điện thoại. M không biết tuổi, địa chỉ, nhà ở của H mà chỉ nghe H nói nhà ở xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. M chỉ mua ma túy của H một lần vào tháng 01 năm 2024. Cơ quan điều tra đã xác minh tại Công an xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ nhưng không xác định được người đàn ông tên Hoàng bán ma túy cho M như M đã khai.
Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai của Hà Quý T và Nguyễn Trường G. Tại cơ quan điều tra, T và G chỉ thừa nhận việc sử dụng ma tuý Ketamine cùng M tại phòng ngủ của M vào tối ngày 16/01/2024. T và G không góp tiền mua ma túy, G không đốt nóng đĩa sứ và xào ma tuý Ketamine. G là khách mời nên tất cả mọi việc đều do M làm. T không chứng kiến việc đốt nóng đĩa và xào ma túy nên không biết ai làm. G và T chỉ sử dụng Ketamine. Ngoài lời khai của M, T và G, Cơ quan điều tra không thu thập được thêm tài liệu chứng cứ gì khác để chứng minh nên không đề cập xử lý.
Đối với Nguyễn Thị Thu T2 là người để thẻ căn cước công dân trong túi áo sau đó M dùng để xào ma túy, T2 không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của M.
Đối với túi nilon màu trắng chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng cơ quan điều tra thu giữ của M khi khám xét khẩn cấp, M khai nhận đây là ma túy Ketamine, M cất giữ số ma túy trên với mục đích để sử dụng cho bản thân. Do lượng ma túy Ketamine Mạnh tàng trữ không cấu thành tội phạm, Công an thị xã P đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Cơ quan điều tra đã xét nghiệm ma túy đối với Trần Văn M, Hà Quý T, Nguyễn Trường G. Kết quả thể hiện M và T dương tính với ma túy, G âm tính với ma túy. Tuy nhiên trước đó các đối tượng khai nhận đã sử dụng ma túy nên Công an thị xã P đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Hà Quý T và Nguyễn Trường G.
2. Vụ án mua bán trái phép chất ma túy
Hồi 11 giờ 00 phút, ngày 06/02/2024, tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế ma túy Công an thị xã P đang làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa nhà anh Trần Văn D, sinh năm 1982, thuộc khu G, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ phát hiện Hà Quý T, sinh năm 2006, nơi thường trú khu G, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm 01 túi nilon màu trắng, loại túi Zíp, ở đầu có mép vuốt bịt kín, có viền kẻ màu đỏ bên trong có 11 viên nén hình bầu dục đều màu xám và 06 túi nilon đều màu trắng, loại túi zíp, ở đầu có mép vuốt bịt kín, có viền kẻ màu xanh, trong đó 05 túi nilon bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 01 túi bên trong có chứa 01 viên nén hình bầu dục màu xám; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6 Plus, màu xám, đã cũ, màn hình điện thoại bị rạn vỡ, có gắn thẻ sim số 0386935115; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Dream (theo tem mác dán trên xe) màu nâu, đã cũ, số máy VLF1P50FMG-350100091, số khung RL8DCG7DL51000091, xe không có biển kiểm soát. Ngay tại nơi kiểm tra T khai nhận số viên nén là ma túy tổng hợp dạng thuốc lắc và số chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma túy Ketamine, T cất giữ số ma túy trên với mục đích để bán kiếm lời. Tổ công tác đã niêm phong vật chứng thu giữ của T để phục vụ công tác điều tra.
Cùng ngày 06/02/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hà Quý T tại khu G, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật tài sản gì.
Tại Cơ quan điều tra Hà Quý T khai nhận nguồn gốc số ma túy T cất giữ là của Trần Văn M, sinh năm 2005, nơi thường trú khu G, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ đưa cho T vào ngày 04/02/2024 để T mang đi bán theo sự chỉ đạo của M. Ngày 06/02/2024 T đã mang ma tuý tổng hợp dạng thuốc lắc và ma túy Ketamine đi bán cho một người T không biết mặt, tên, tuổi, địa chỉ theo sự chỉ đạo của M.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã làm rõ hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý của Hà Quý T và Trần Văn M cụ thể như sau:
Khoảng đầu tháng 01 năm 2024 Trần Văn M đi chơi và gặp một người phụ nữ không biết tên, tuổi, địa chỉ. Qua trao đổi về việc M có nhu cầu mua ma túy tổng hợp nên người phụ nữ này cho M số điện thoại của một người bán ma túy. Mạnh không lưu số điện thoại của người bán ma túy mà chỉ kết bạn Z và thấy hiện tên tài khoản Zalo là “H”. Đến khoảng cuối tháng 01 năm 2024 M bàn với T đi mua ma tuý về cùng bán để lấy tiền tiêu tết Nguyên đán, T đồng ý. Cả hai thỏa thuận, M ứng tiền và đi mua ma túy về rồi đưa T cất giữ ma túy, khi có khách mua, M là người liên hệ, nhận tiền còn T mang ma tuý đi giao cho khách bằng cách để ở cột đèn hoặc cột mốc trên đường (địa điểm cụ thể do M chỉ đạo) rồi chụp ảnh vị trí để ma túy gửi cho M, sau đó M sẽ gửi cho khách để khách đến lấy ma túy. M và T thỏa thuận khi nào bán hết ma túy sẽ chia tiền lời hoặc M cho T ma túy để T sử dụng. Do T không có phương tiện di chuyển nên M giao xe mô tô nhãn hiệu HONDA Dream, màu nâu, xe không có biển kiểm soát của M cho T sử dụng để phục vụ việc đi bán ma tuý. Khoảng 18 giờ ngày 04/02/2024 M dùng tài khoản Zalo của M là “Trần M” gọi vào tài khoản Z “H” hỏi mua 16 viên ma túy tổng hợp dạng thuốc lắc (kẹo) và 05 chỉ ma tuý Ketamine với giá 300.000 đồng/01 viên ma túy tổng hợp và 2.200.000 đồng/01 chỉ Ketamine, tổng tiền mua ma túy là 15.800.000đ. Người này đồng ý và bảo M chuyển tiền mua ma túy. Do chưa có đủ tiền nên M thỏa thuận chuyển trả trước 4.300.000 đồng, số tiền còn lại khi nào bán được ma tuý M sẽ trả nốt. Người này đồng ý và gửi số tài khoản cho M. M sử dụng số tài khoản 11111222333456 mở tại ngân hàng Q (M2) mang tên Trần Văn M chuyển 4.300.000 đồng đến số tài khoản 0936385231 mở tại ngân hàng thương mại cổ phần A mang tên “VO THI BE EM” theo yêu cầu của người bán ma túy. Một lúc sau người này gọi điện thoại cho M thông báo gói ma túy để ở dưới gốc cây gần nhà nghỉ H1 thuộc xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, đồng thời chụp ảnh vị trí để ma túy gửi qua Zalo cho M. Sau đó M dùng tài khoản Facebook Messenger của M là “Trần M” gọi đến tài khoản Facebook Messenger của T là “T” bảo đến đón M. T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA Dream đến nhà đón M và chở M đi lấy ma túy. Khi đi đến đoạn đường gần nhà nghỉ H1, M bảo T dừng xe. M xuống xe đi bộ đến gốc cây nhặt một gói giấy màu trắng loại giấy vệ sinh, M biết bên trong có ma túy nên không mở ra xem mà đi lại nơi T đứng rồi cả hai đi về. Trên đường về M, cất gói ma tuý vào túi áo của T và nói “Cầm về đi nhé lúc nào anh gọi thì đi”, T hiểu đây là gói ma túy M đưa T mang về cất giữ khi nào có khách mua sẽ mang đi bán. Sau đó T chở M về nhà M còn T đi xe mô tô về nhà T và mở gói ma túy bằng giấy màu trắng loại giấy vệ sinh bên trong có 01 túi nilon màu trắng, loại túi zip, ở đầu có mép vuốt bịt kín, có viền kẻ màu đỏ, bên trong có 16 viên nén đều có hình bầu dục, màu xám là ma túy tổng hợp dạng thuốc lắc và 07 túi nilon đều màu trắng, loại túi zíp, ở đầu có mép vuốt bịt kín, có viền kẻ màu xanh, bên trong đều có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma túy Ketamine. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày M gọi điện cho T qua ứng dụng Facebook M1 bảo T đem 01 túi ma túy Ketamine cho M để M đi bán, T đã lấy 01 túi ma túy có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma túy Ketamine mang đến nhà M. Do M không bán được ma túy nên đã sử dụng một ít ma túy, số ma túy còn lại M cất giữ trong phòng ngủ để tiếp tục sử dụng. Khoảng 22 giờ ngày 05/02/2024 T lấy 01 viên nén hình bầu dục, màu xám là ma tuý tổng hợp dạng thuốc lắc trong số ma túy M đưa rồi sử dụng cho bản thân hết. Đến khoảng 03 giờ sáng ngày 06/02/2024 Nguyễn Quang V, sinh năm 2005 nơi thường trú khu dân cư T, phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ dùng tài khoản Facebook Messenger “Nguyễn Quang V” gọi điện vào tài khoản Facebook M1 “Trần M” hỏi mua 01 chỉ ma tuý Ketamine và 03 viên ma tuý tổng hợp dạng thuốc lắc, M đồng ý và bảo V 01 chỉ Ketamine có giá 2.800.000 đồng, 01 viên thuốc lắc có giá 450.000 đồng, tổng tiền là 4.150.000 đồng, V đồng ý. M bảo anh V chuyển tiền mua ma túy vào số tài khoản 11111222333456 mở tại ngân hàng Q (M2) mang tên Trần Văn M rồi đi ra khu vực ngã ba đèn đỏ đường 35m gần quán N1 thuộc xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, M sẽ chỉ địa điểm cất giấu ma tuý. Sau đó V dùng số tài khoản 19038266742019 mở tại ngân hàng T5 mang tên Nguyễn Quang V chuyển đến tài khoản của M 2.300.000 đồng, đồng thời nhắn tin bảo M số tiền còn lại một lúc nữa V sẽ chuyển trả sau. M đồng ý và gọi điện cho T bảo mang 03 viên ma tuý tổng hợp dạng thuốc lắc và 01 chỉ ma tuý Ketamine đến để ở khu vực ngã ba đèn đỏ đường 35m gần quán N1 rồi chụp ảnh vị trí cụ thể gửi cho M. Sau đó T gói 03 viên nén đều có hình bầu dục, màu xám là ma tuý tổng hợp dạng thuốc lắc và 01 túi nilon chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma tuý Ketamine vào một gói giấy màu trắng loại giấy vệ sinh rồi một mình điều khiển xe máy mô tô đi ra ngã ba đèn đỏ giao nhau giữa đường 35m với đường đi xã Đ, huyện T gần quán N1. T để số ma tuý gần chân cột đèn đỏ và chụp ảnh vị trí rồi gửi qua tin nhắn cho M. Sau khi nhận được tin nhắn của T, M nhắn tin lại bảo T xoá hết tin nhắn, hình ảnh liên quan đến việc mua bán ma túy, đồng thời M gửi ảnh vị trí để ma tuý cho V. Sau đó V đi bộ một mình đến chân cột đèn xanh, đèn đỏ tại ngã ba gần quán N1 thấy 01 gói giấy màu trắng loại giấy vệ sinh, V biết bên trong có ma tuý nên không mở ra xem mà cầm đi về nhà. V mở gói giấy ra kiểm tra thấy bên trong có 01 túi nilon màu trắng loại túi zíp, có mép vuốt bịt kín, viền kẻ màu đỏ, trong túi nilon có chứa 03 viên nén hình bầu dục màu xám là ma túy tổng hợp dạng thuốc lắc và 01 túi nilon màu trắng, loại túi zíp ở đầu có mép vuốt bịt kín có viền kẻ màu xanh bên trong có chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma túy Ketamine. V đã sử dụng hết số ma túy vừa mua được tại nhà. Đồng thời V chuyển tài khoản trả nốt số tiền mua ma túy cho M là 1.850.000 đồng. Đối với 12 viên nén đều có hình bầu dục, màu xám là ma túy tổng hợp dạng thuốc lắc và 05 túi nilon chứa ma túy Ketamine còn lại, T cất giữ trong người để bán nhưng chưa bán được thì bị Công an thị xã P thu giữ khi bắt quả tang ngày 06/02/2024 như đã nêu trên.
Đối với số ma túy Ketamine T3 đưa M đi bán ngày 04/02/2024 nhưng M không bán được và để trong phòng ngủ với mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Cơ quan điều tra tạm giữ khi khám xét khẩn cấp ngày 06/02/2024.
Ngày 06/02/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã ra Quyết định trưng cầu Phòng K Công an tỉnh P giám định các mẫu vật thu giữ của Hà Quý T. Tại bản kết luận giám định số 244/KL-KLGD ngày 08/02/2024 của Phòng K công an tỉnh P đã kết luận:
11 viên nén hình bầu dục đều màu xám trong Bì niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có tổng khối lượng là: 4,857 gam, loại: MDMA.
Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa trong 05 túi nilon đều màu trắng, loại túi zip, ở đầu có mép vuốt bịt kín, có viền kẻ màu xanh trong Bì niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là: 2,942 gam, loại: Ketamine.
01 viên nén hình bầu dục màu xám chứa trong 01 túi nilon màu trắng, loại túi zip, ở đầu có mép vuốt bịt kín, có viền kẻ màu xanh trong Bì niêm phong gửi đến giám định có khối lượng là: 0,449 gam, loại: MDMA
Ketamine: sổ thứ tự 40, Danh mục III, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.
MDMA: số thứ tự 11, Danh mục IB, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.
Về nguồn gốc số ma túy mà M đưa T để đi bán, M khai khi xin được số điện thoại của người bán ma tuý M không lưu số điện thoại mà chỉ kết bạn Zalo. Việc mua bán ma túy được giao dịch bằng hình thức chuyển khoản, giao nhận ma tuý bằng cách chỉ điểm vị trí để ma tuý và M đến lấy nên M chưa gặp mặt người đã bán ma tuý cho mình. Đến ngày 06/02/2024 M đã chuyển trả cho người bán ma túy tổng số tiền là 13.040.000đ, M vẫn còn nợ của người này số tiền 2.760.000đ.
Cơ quan điều tra đã xác định chủ số tài khoản 0936385231 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần A (A1) là của chị Võ Thị Bé E, sinh năm 1982, địa chỉ thường trú: Xã Đ, huyện T, tỉnh Sóc Trăng, sau đó chuyển khẩu đến Ấp M, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. Cơ quan điều tra đã uỷ thác điều tra, kết quả điều tra xác định hiện nay chị Em không có mặt tại địa phương. Do vậy cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xác minh làm rõ người bán ma túy cho Trần Văn M.
Cơ quan điều tra đã xét nghiệm việc sử dụng chất ma túy đối với Nguyễn Quang V. Kết quả thể hiện V âm tính với ma túy. Tuy nhiên trước đó V khai nhận đã sử dụng ma túy nên Công an thị xã P đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Cáo trạng số 44/CT-VKSTXPT ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Trần Văn M về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Hà Quý T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi:
Ngày 16/01/2024, tại phòng ngủ của Trần Văn M thuộc khu G, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, Trần Văn M có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Ketamine cho Hà Quý T và Nguyễn Trường G.
Trong khoảng thời gian cuối tháng 1 năm 2024 Trần Văn M và Hà Quý T cùng nhau thống nhất đi mua ma tuý về với mục đích để bán kiếm lời. Khoảng 03 giờ 06/02/2024 tại xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, Trần Văn M và Hà Quý T đã bán trái phép 01 túi nilon màu trắng loại túi zíp, có mép vuốt bịt kín, có viền kẻ màu đỏ, trong túi nilon có chứa 03 viên nén hình bầu dục màu xám là ma túy tổng hợp dạng thuốc lắc, 01 túi nilon màu trắng, loại túi zíp ở đầu có mép vuốt bịt kín có viền kẻ màu xanh bên trong có chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma túy Ketamine cho Nguyễn Quang V với giá 4.150.000 đồng. Hồi 11 giờ ngày 06/02/2024 tại khu G, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, Hà Quý T có hành vi tàng trữ 5,306 gam MDMA và 2,942 gam Ketamine với mục đích để bán bị công an thị xã P thu giữ. Số ma túy này, Trần Văn M và Hà Quý T đã thỏa thuận Mạnh ứng tiền ra mua ma túy, còn T cất giữ để bán theo sự chỉ đạo của M.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma tuý”; bị cáo Hà Quý T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Điểm p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Trần Văn M.
Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 91, 101 Bộ luật hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” đối với bị cáo Hà Quý T.
Xử phạt bị cáo Trần Văn M từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Trần Văn M phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là từ 15 năm 06 tháng tù đến 16 năm 6 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 06/02/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Văn M.
Xử phạt bị cáo Hà Quý T 05 năm 03 tháng đến 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 06/02/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hà Quý T.
Về vấn đề dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, 2, 3 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu để tiêu huỷ: 01 (một) túi giấy niêm phong số 244/KL-KTHS và 01 (một) túi giấy niêm phong số 243/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh P bên trong có chứa 01 chiếc đĩa sứ và mẫu vật còn lại sau giám định; 01 tai nghe không dây, 01 tai nghe có dây màu đen, sim số 0877.844.329 (gắn trên điện thoại IPHONE 7, màu đen), sim số: 0386935115 (gắn trên điện thoại IPHONE 6 Plus, màu xám) đều của Trần Văn M.
Truy thu của Trần Văn M số tiền 4.150.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.
Trả lại số tiền 9.020.000 đồng (Chín triệu không trăm hai mươi nghìn đồng) cho chị Nguyễn Thị Thu T2.
Tịch thu để bán sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7, màu đen, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6 Plus, màu xám, đã cũ, màn hình điện thoại bị rạn vỡ và 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Dream (theo tem mác dán trên xe) màu nâu, đã cũ, xe không gắn biển kiểm soát, không có gương chiếu hậu (Cơ quan cảnh sát điều tra đã xác minh xe có biển kiểm soát 19K7-8540 nhưng trong quá trình sử dụng đã bị rơi), đều của Trần Văn M.
Các bị cáo không có tranh luận gì về tội danh và khung hình phạt. Các bị cáo đều thừa nhận tội danh và khung hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Người bào chữa cho bị cáo Hà Quý T đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cho bị cáo Hà Quý T do khi phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài ra bị cáo T có ông nội là người có công với cách mạng, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Hà Quý T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Thu T2 đề nghị được trả lại số tiền là 9.020.000 đồng và không có yêu cầu gì khác.
Người làm chứng là ông Trần Văn D trình bày: Hành vi của Trần Văn M là vi phạm pháp luật nhưng M đã biết ăn năn hối cải, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo M.
Lời nói sau cùng, các bị cáo đều thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, các bị cáo đều xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa. Do vậy có đủ cơ sở xác định:
Ngày 16/01/2024, tại phòng ngủ của Trần Văn M thuộc khu G, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, Trần Văn M có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Ketamine cho Hà Quý T và Nguyễn Trường G. Vật chứng thu giữ 01 chiếc đĩa sứ hình tròn màu trắng có in hoa văn nhiều màu sắc (do ông D là bố đẻ của M giao nộp) và thu giữ khi khám xét khẩn cấp 01 túi nilon bên trong có 0,508g Ketamine. Trong số các đối tượng tham gia sử dụng ma túy có Hà Quý T, sinh ngày 22/6/2006 là người dưới 18 tuổi.
Trong khoảng thời gian cuối tháng 1 năm 2024 Trần Văn M và Hà Quý T cùng nhau thống nhất đi mua 16 viên nén đều có hình bầu dục, màu xám là ma túy tổng hợp dạng thuốc lắc và 07 túi nilon đều màu trắng, loại túi zíp, ở đầu có mép vuốt bịt kín, có viền kẻ màu xanh, bên trong đều có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma túy Ketamine của người có tên tài khoản zalo “Hoàng L1” với mục đích để bán kiếm lời. Khoảng 03 giờ 06/02/2024 tại xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, Trần Văn M và Hà Quý T đã bán trái phép 01 túi nilon màu trắng loại túi zíp, có mép vuốt bịt kín, có viền kẻ màu đỏ, trong túi nilon có chứa 03 viên nén hình bầu dục màu xám là ma túy tổng hợp dạng thuốc lắc, 01 túi nilon màu trắng, loại túi zíp ở đầu có mép vuốt bịt kín có viền kẻ màu xanh bên trong có chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma túy Ketamine cho Nguyễn Quang V với giá 4.150.000 đồng.
Hồi 11 giờ ngày 06/02/2024 tại khu G, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, Hà Quý T có hành vi tàng trữ 5,306 gam MDMA và 2,942 gam Ketamine với mục đích để bán bị công an thị xã P thu giữ. Số ma túy này, Trần Văn M và Hà Quý T đã thỏa thuận Mạnh ứng tiền ra mua ma túy, còn T cất giữ để bán theo sự chỉ đạo của M nên M và T đồng phạm về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/2/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 thì tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của chất ma túy MDMA và Ketamine mà M và T tàng trữ để bán là 20,632% (thuộc trường hợp dưới 100%), nên Trần Văn M và Hà Quý T phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Trong vụ án tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, M là người khởi xướng, cung cấp địa điểm, ma túy cho T và G sử dụng trái phép chất ma túy.
Vụ án mua bán trái phép chất ma túy, M là người ứng tiền mua ma túy, trực tiếp giao dịch với khách hàng, chỉ đạo T cất giữ ma túy, đem ma túy đi giao cho khách theo sự chỉ đạo của M.
Vai trò của các bị cáo: Đối với tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý thì M là người chủ mưu, tự đi mua ma túy, tổ chức cho T và G sử dụng (trong đó T là người dưới 18 tuổi). Đối với tội Mua bán trái phép chất ma tuý thì M ứng tiền mua ma túy về giao lại cho T cất giữ và cùng nhau bán ma túy, T là người giúp sức tích cực.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo Trần Văn M hoàn toàn ý thức được hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật; bị cáo Hà Quý T hoàn toàn ý thức được hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước.
Vì vậy có cơ sở và căn cứ pháp lý kết luận bị cáo Trần Văn M phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Hà Quý T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ truy tố các bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là đúng pháp luật. Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Hà Quý T là phù hợp với pháp luật được chấp nhận.
Hành vi của các bị cáo cần phải xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự để giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân, các bị cáo không có tiền án, không có tiền sự như đã nêu trên. Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Trần Văn M đến Công an thị xã P đầu thú về hành vi phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Hà Quý T có ông nội được thưởng huân chương kháng chiến hạng ba nên bị cáo T được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Với các tình tiết nêu trên, áp dụng hình phạt tù trong khung hình phạt đối với mỗi tội danh mà các bị cáo đã phạm. Tuy nhiên đối với bị cáo Hà Quý T là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội nên mức hình phạt tù cao nhất được áp dụng không quá 3/4 mức phạt tù mà điều luật quy định. Đối với bị cáo Trần Văn M phạm 02 tội nên tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội nêu trên. Buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ trong một thời gian, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội.
Ngoài các tài sản bị thu giữ, các bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị lớn, nghề nghiệp không ổn định. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Văn M, mặt khác bị cáo Hà Quý T là người dưới 18 tuổi phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hà Quý T.
[3] Về vấn đề dân sự và xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1, 2, 3 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
01 (một) túi giấy niêm phong số 244/KL-KTHS và 01 (một) túi giấy niêm phong số 243/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh P bên trong có 01 chiếc đĩa sứ và mẫu vật còn lại sau giám định được tịch thu để tiêu huỷ.
01 tai nghe không dây và 01 tai nghe có dây màu đen là đồ vật, đồ dùng của M, đây là công cụ để sử dụng trái phép chất ma túy được tịch thu để tiêu huỷ.
Truy thu để sung vào ngân sách nhà nước số tiền 4.150.000 đồng của Trần Văn M do bán trái phép chất ma tuý cho Nguyễn Quang V mà có.
Số tiền 9.020.000 đồng là của chị Nguyễn Thị Thu T2, sinh năm 2005, nơi thường trú khu A, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ là người chung sống như vợ chồng với M tại nhà M. Số tiền này chị T2 gửi M giữ hộ không liên quan đến hành vi phạm tội nên được trả lại cho T2.
01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7, màu đen, đã qua sử dụng, có gắn 01 sim số 0877.844.329 (cơ quan điều tra tạm giữ của M) là tài sản của M sử dụng liên lạc cá nhân và liên lạc mua bán ma tuý; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6 Plus, màu xám, đã cũ, màn hình điện thoại bị rạn vỡ, có gắn thẻ sim số: 0386935115 và 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Dream (theo tem mác dán trên xe) màu nâu, đã cũ, xe không gắn biển kiểm soát, không có gương chiếu hậu (Cơ quan cảnh sát điều tra đã xác minh xe có biển kiểm soát 19K7-8540 nhưng trong quá trình sử dụng đã bị rơi), đã thu giữ của Hà Quý T nhưng đều là tài sản của Trần Văn M giao cho T để T làm phương tiện sử dụng vào mục đích cùng M mua bán trái phép chất ma tuý nên được tịch thu để bán sung vào ngân sách nhà nước 02 chiếc điện thoại, 01 xe mô tô nêu trên, 02 sim điện thoại được tiêu huỷ.
Đối với chiếc điện thoại di động của Nguyễn Quang V sử dụng để liên lạc mua bán ma túy với M, ngày 19/02/2024 do không có tiền chi tiêu nên V đã bán chiếc điện thoại này cho người không biết tên tuổi, địa chỉ nên cơ quan điều tra không thu hồi được.
[4] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Điểm p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Văn M.
Điểm p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 91, 101 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hà Quý T.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma tuý”; bị cáo Hà Quý T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn M 08 (Tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Trần Văn M phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 15 (Mười lăm) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 06/02/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Văn M.
Xử phạt bị cáo Hà Quý T 05 (Năm) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 06/02/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hà Quý T.
2. Về vấn đề dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, 2, 3 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu để tiêu huỷ: 01 (một) túi giấy niêm phong số 244/KL-KTHS và 01 (một) túi giấy niêm phong số 243/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh P bên trong có 01 chiếc đĩa sứ và mẫu vật còn lại sau giám định; 01 tai nghe không dây, 01 tai nghe có dây màu đen, sim số 0877.844.329 (gắn trên điện thoại IPHONE 7, màu đen), sim số: 0386935115 (gắn trên điện thoại IPHONE 6 Plus, màu xám) đều của Trần Văn M.
Truy thu để sung vào ngân sách nhà nước số tiền 4.150.000 đồng (Bốn triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) của Trần Văn M do bán trái phép chất ma tuý mà có.
Trả lại số tiền 9.020.000 đồng (Chín triệu không trăm hai mươi nghìn đồng) cho chị Nguyễn Thị Thu T2.
Tịch thu để bán sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7, màu đen, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6 Plus, màu xám, đã cũ, màn hình điện thoại bị rạn vỡ và 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Dream (theo tem mác dán trên xe) màu nâu, đã cũ, xe không gắn biển kiểm soát, không có gương chiếu hậu, đều của Trần Văn M.
(Vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ ngày 26/6/2024).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết của Ủy ban thường vụ quốc hội số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016.
Các bị cáo Trần Văn M và Hà Quý T mỗi người phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo, đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đình Chi |
Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 40/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng ma túy
