|
TAND HUYỆN VĂN BÀN TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 40/2024/HS-ST Ngày 24/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI.
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Triệu Vĩnh Thái.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Bách Khanh.
2. Bà Vũ Thị Hồng Hải
Thư ký phiên toà: Ông Tráng Kháy Phìn - Thư ký toà án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Long - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn B sinh ngày 16/8/1976, tại huyện V, tỉnh Lào Cai.
Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai.
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: Lớp 5/12.
Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông: Nguyễn Văn T (đã chết); Bố dượng: Hoàng Văn L, sinh năm 1954; con bà: Hoàng Thị È, sinh năm 1957.
Vợ Hoàng Thị T1, sinh năm 1978; Bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2000.
Tiền án: 02 tiền án, + Tại bản án số 20/2006/HSST ngày 18/9/2006 của TAND huyện Văn Bàn xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và xử phạt bổ sung 5 triệu đồng;
+ Tại bản án số 29/2010/HS- ST ngày 29/11/2010 của TAND huyện Văn Bàn áp dụng Điểm b, Khoản 2, Điều 194; Điểm p, khoản 1, Điều 46; điểm g, Khoản 1, Điều 48; Điều 20, Điều 53 BLHS xử phạt Nguyễn Văn B 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và phạt bổ sung 5 triệu đồng.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/4/2024 cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Lào Cai - Có mặt tại phiên tòa.
2. Tòng Thị D, sinh ngày 11/01/1979, tại huyện V, tỉnh Lào Cai.
Nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện V, tỉnh Lào Cai.
Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: Không.
Dân tộc: Tày; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông: Tòng Văn P, sinh năm 1956; con bà: Lò Thị C, sinh năm 1959.
Chồng Vương Văn H, sinh năm 1978, bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2000. Hiện đều trú tại: Xã M, huyện V, tỉnh Lào Cai.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 03/5/2019 bị Công an huyện V xử phạt 1.500.000đ về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 04/5/2019 đã thực hiện xong Quyết định.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/4/2024 cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Lào Cai - Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn B : Bà Liệu Thị T2, sinh năm 1988 - Trợ giúp viên, trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L - Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Tòng Thị D : Bà Lương Thị C1, sinh năm 1991 - Trợ giúp viên, trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L - Có mặt.
Người làm chứng: 1/ Ông Chu Văn D1, sinh năm 1997 - Vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn P, xã N, huyện V, tỉnh Lào Cai.
2/ Chị Vương Thị H1, sinh năm 2000 - Có mặt.
Nơi cư trú: Thôn T, xã D, huyện V, tỉnh Lào Cai.
Người chứng kiến: 1/ Bà Hà Thị H2, sinh năm 1997 - Vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện V, tỉnh Lào Cai.
2/ ông Chu Văn T3, sinh năm 1978 - Vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn B, xã M, huyện V, tỉnh Lào Cai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên Tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 14 giờ 10 phút ngày 06/4/2024 tại nhà của Nguyễn Văn B thuộc thôn Bản Bô, xã T, Công an huyện V bắt quả tang B có hành vi bán trái phép chất ma tuý cho Chu Văn D1 (sn 1997, trú tại cùng địa chỉ trên). Khi bắt quả tang, D1 tự giác lấy từ túi quần bên phải đang mặc ra 01 gói giấy trắng có dòng kẻ bên trong chứa chất bột khô màu trắng vón cục và khai nhận đây là ma tuý vừa mua được của B với giá 100.000 đồng để sử dụng. B tự giác lấy từ túi quần bên phải đang mặc ra giao nộp 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và khai nhận đây là tiền vừa bán ma tuý cho D1 mà có; lấy từ túi quần bên trái đang mặc ra 01 hộp nhựa màu trắng bên trong đựng 09 gói giấy trắng có dòng kẻ bên trong chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục và khai nhận đây là ma tuý của B tàng trữ để bán và sử dụng.
Về nguồn gốc ma tuý Nguyễn Văn B khai: Vào khoảng 12 giờ ngày 04/4/ 2024, B mua được 10 gói ma tuý với giá 500.000 đồng của người phụ nữ tên Diện nhà ở thôn C M, xã M ở khu vực đường đi gần nhà D. Sau khi mua được ma tuý B chia tách thành 15 gói, sau đó đã sử dụng hết 05 gói, còn lại 10 gói thì bị thu giữ khi bị bắt quả tang.
Cơ quan điều tra tiến hành xác minh và khám xét khẩn cấp người và chỗ ở đối với Tòng Thị D tại thôn C M, xã M vào hồi 17 giờ 55 ngày 06/4/2024. Tòng Thị D tự giác lấy từ túi quần bên trái đang mặc ra giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 500.000 đồng gồm 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và khai nhận đây là tiền bán ma tuý cho Nguyễn Văn B ở xã T mà có. Sau đó D lấy từ trong rổ bát ở trong kho dưới sàn nhà ra giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 túi nilon màu hồng đựng 03 gói nilon màu trắng, 01 gói nilon màu hồng bên trong đều chứa chất bột khô màu trắng vón cục và khai nhận đây là ma tuý của D cất giấu để bán kiếm lời. Cơ quan điều tra tiến hành ghi lời khai ban đầu của D vào hồi 18 giờ 55 phút ngày 06/4/2023 tại thôn C, xã M: Diện khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 04/4/2024, D bán cho một người đàn ông tên B, nhà ở xã T 10 gói ma tuý với giá 500.000 đồng ở khu vực đường đi gần nhà D. Đến khoảng 17 giờ 55 phút cùng ngày thì có lực lượng công an đến nhà khám xét. Diện đã tự giác lấy từ túi quần bên phải đang mặc ra giao nộp cho tổ công tác 500.000 đồng và khai nhận đây là tiền bán ma tuý cho B mà có. Tiếp đó lấy từ trong rổ bát ở trong kho dưới sàn nhà giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 túi nilon màu hồng đựng 03 gói nilon màu trắng, 01 gói nilon màu hồng bên trong đều chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục và khai nhận đây là ma tuý của D tàng trữ để bán kiếm lời.
Quá trình làm việc về sau Diện thay đổi nội dung khai báo: Số tiền 500.000 đồng giao nộp là tiền của con gái cho, số ma tuý bị thu giữ là của D mua để làm thuốc chữa bệnh, không có mục đích bán kiếm lời. Nguồn gốc ma tuý của D có được do mua của 01 người đàn ông không quen biết vào ngày 06/4/2024 với giá 200.000 đồng tại khu vực xã M.
Tại bản KLGĐ số 149 ngày 12/4/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh L, kết luận: - Số chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Chu Văn D1 có khối lượng 0,037 gam là loại chất ma tuý Heroine.
- Số chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Nguyễn Văn B có khối lượng 0,422 gam là loại chất ma tuý Heroine.
- Số chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Tòng Thị D có khối lượng 0,655 gam là loại chất ma tuý Heroine.
*Tại bản Cáo trạng số: 40/CT-VKS ngày 02/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn B, ra trước Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Tòng Thị D ra trước Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn B, Tòng Thị D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy."
* Về hình phạt: - Hình phạt chính:
+ Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Tòng Thị D từ 03 năm tù đến 03 năm 03 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung các bị cáo mỗi bị cáo 5.000.000đ sung ngân sách Nhà nước.
* Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 0,016 gam Heroine; 01 mảnh giấy trắng đã thu giữ của Chu Văn D1 và bì niêm phong ban đầu.
- Tịch thu tiêu hủy 0,241 gam Heroine; 09 mảnh giấy trắng; 01 hộp nhựa mầu trắng đã thu giữ của Nguyễn Văn B và bì niêm phong ban đầu.
- Tịch thu tiêu hủy 0,489 gam Heroine cùng 01 túi nilon mầu hồng; 03 mảnh nilon mầu trắng, 01 mảnh nilon mầu hồng đã thu giữ của Toàng Thị D2 và bì niêm phong ban đầu.
- Tịch thu 100.000đ của bị cáo Nguyễn Văn B; 500.000đ của bị cáo Tòng Thị D là tiền do phạm tội mà có sung Ngân sách Nhà nước.
* Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn B: Nhất trí với tội danh và điều luật mà đại diện Viện kiểm sát truy tố nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B mức án thấp nhất của khung hình phạt là 07 năm tù và không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo; miễn án phí cho bị cáo. Vì bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sống bằng nghề tự do, không có tài sản riêng gì.
* Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Tòng Thị D: Đề nghị xem xét bị cáo phạm tội một phần do nhận thức hạn chế là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết của vụ án, lời khai của bị cáo tại phiên tòa, quá trình tranh tụng tại phiên tòa để xem xét quyết định hình phạt đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của các bị cáo bị truy tố:
Ngày 04/4/2024 bị cáo Tòng Thị D mua của một người đàn ông không quen biết 200.000đ được một gói Heroine, khoảng 12 giờ ngày 04/4/2024 bị cáo D bán cho bị cáo Nguyễn Văn B 10 gói Heroine với giá 500.000đ. Mua được ma túy bị cáo B chia tách lại thành 15 gói nhỏ, đã sử dụng hết 05 gói, còn lại 10 gói bị cáo B cho vào túi quần khoảng 14 giờ 10 phút ngày 06/4/2024 bán cho Chu Văn D1 01 gói Heroine có khối lượng 0,037 gam với giá 100.000đ thì bị bắt quả tang. B tự giác giao nộp 100.000đ tiền vừa bán ma túy mà có và 09 gói Heroine còn lại có khối lượng 0,422 gam. Tiến hành khám xét khẩn cấp người và chỗ ở của Tòng Thị D, bị cáo D tự giác giao nộp 500.000đ và 04 gói Heroine có khối lượng 0,655 gam. Cơ quan điều tra đã lập biên bản và niêm phong số vật chứng nêu trên theo quy định.
Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định Nguyễn Văn B ngày 06/4/2024 đã có hành vi mua bán 0,459 gam Heroine trước đó bị cáo đã bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy“, đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục phạm tội như vậy lần phạm tội này là tái phạm nguy hiểm.
Bị cáo Tòng Thị D ngày 06/4/2024 đã có hành vi mua bán 1,114 gam Heroine. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai số Heroine bị cáo giao nộp là của bị cáo mua về với mục đích để làm thuốc chữa bệnh chứ không có mục đích bán kiếm lời và không thực hiện hành vi bán trái phép chất ma tuý cho Nguyễn Văn B. Nhưng quá trình khám xét khẩn cấp và lời khai ban đầu bị cáo thừa nhận là bán Heroine cho Nguyễn Văn B ngoài ra số tiền thu giữ, biên bản nhận dạng, kết quả thực nghiệm điều tra đều xác định việc bị cáo bán Heroine cho bị cáo B khoảng 12 giờ ngày 04/4/2024 là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn B đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Tòng Thị D đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.
[3] Hội đồng đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy. Các bị cáo hiểu rõ ma túy là loại độc dược nguy hiểm ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng con người. Là người khỏe mạnh, đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng các bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, hám lời mua bán trái phép ma túy. Ngoài ra bị cáo Tòng Thị D ngày 03/5/2019 đã bị Công an huyện V xử phạt 1.500.000đ về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 04/5/2019 đã thực hiện xong Quyết định nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội. Nên xét cần có một hình phạt thật nghiêm khắc để cải tạo giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
[4] Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn B trong quá trình điều tra truy tố và xét xử thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên giảm nhẹ một phần hình phạt tù cho bị cáo.
Bị cáo Tòng Thị D không thành khẩn khai báo, không ăn năn hối cải. Vì vậy, bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: - Đối với bị cáo Nguyễn Văn B là người sử dụng ma túy, hiện hình phạt bổ sung của 02 bản án trước chưa chấp hành, nghề nghiệp tự do, không có tài sản riêng gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Đối với bị cáo Tòng Thị D, mua bán ma túy nhằm kiếm lợi nhuận nên cần phạt bổ sung một khoản tiền sung ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự
[6] Về vật chứng: - Cơ quan điều tra thu giữ của Chu Văn D1 0,037 gam Heroine gửi giám định, cơ quan giám định đã lưu mẫu 0,021 gam Heroine còn lại 0,016g Heroine cùng 01 mảnh giấy trắng có dòng kẻ và bì niêm phong ban đầu cần tịch thu tiêu hủy.
- Cơ quan điều tra thu giữ của Nguyễn Văn B 0,442gam Heroine gửi giám định, cơ quan giám định đã lưu mẫu 0,181 gam Heroine còn lại 0,241g Heroine cùng 09 mảnh giấy trắng có dòng kẻ, 01 hộp nhựa mầu trắng và bì niêm phong ban đầu cần tịch thu tiêu hủy.
- Cơ quan điều tra thu giữ của Tòng Thị D 0,655gam Heroine gửi giám định, cơ quan giám định đã lưu mẫu 0,166 gam Heroine còn lại 0,489 gam Heroine cùng 01 túi nilon mầu hồng; 03 mảnh nilon mầu trắng, 01 mảnh nilon mầu hồng và bì niêm phong ban đầu cần tịch thu tiêu hủy.
- Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn B 100.000đ; thu giữ của bị cáo Tòng Thị D 500.000đ là tiền do phạm tội mà có cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[7] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn B, Tòng Thị D là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn án phí cho các bị cáo.
[8] Đối với các tình tiết khác:
- Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Tòng Thị D vào ngày 04/4/2024, quá trình điều tra không xác định được lý lịch, đặc điểm nhận dạng nên không có căn cứ đề cập xử lý.
- Đối với Chu Văn D1 là người nghiện chất ma tuý, vào ngày 06/4/2024 đã có hành vi tàng trữ 0,037 gam Heroine để sử dụng cho bản thân nên chưa đủ căn cứ để xử lý hình sự. Công an huyện V đã ra quyết định xử phạt VPHC là đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn B, Tòng Thị D phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 07 (bẩy) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 06/4/2024 ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo.
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Tòng Thị D 03 (ba) năm 02 (hai) tháng tù và phạt 5.000.000đ (năm triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 06/4/2024 ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo.
* Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 0,016 gam Heroine; 01 (một) mảnh giấy trắng có dòng kẻ đã thu giữ của Chu Văn D1 và bì niêm phong ban đầu đựng trong 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn.
- Tịch thu tiêu hủy 0,241 gam Heroine; 09 (chín) mảnh giấy trắng có dòng kẻ; 01 hộp nhựa mầu trắng đã thu giữ của Nguyễn Văn B và bì niêm phong ban đầu đựng trong 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn.
- Tịch thu tiêu hủy 0,489 gam Heroine cùng 01 túi nilon mầu hồng; 03 (ba) mảnh nilon mầu trắng, 01 mảnh nilon mầu hồng đã thu giữ của bị cáo Tòng Thị D và bì niêm phong ban đầu đựng trong 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn.
- Tịch thu 100.000đ (một trăm nghìn đồng) của bị cáo Nguyễn Văn B; 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) của bị cáo Tòng Thị D là tiền do phạm tội mà có sung Ngân sách Nhà nước.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Bàn ngày 03/7/2024.)
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí cho các bị cáo Nguyễn Văn B và Tòng Thị D.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6, điều 7, điều 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Triệu Vĩnh Thái |
Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI về hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 40/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn văn B - Tòng Thị D
