|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 40/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24 - 7 - 2024 V/v tranh chấp Hôn nhân gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG -TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Đại
Ông Phạm Chí Hà
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Thắng - Thư ký TAND huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Kim Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 72/2024/ TLST - HNGĐ, ngày 21 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXX-ST, ngày 04 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2024/TB-TA, ngày 16 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị M, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Khu Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ
- Bị đơn: Anh Phùng Minh C, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Khu Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
(Chị M có đơn xin xét xử vắng mặt, anh C vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn xin ly hôn và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Trần Thị M trình bày: Chị và anh Phùng Minh C kết hôn với nhau vào năm 1997, có đăng ký tại UBND xã H nay là xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, trên cơ sở hai bên hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị sinh sống tại xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống, vợ chồng hay sảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do không hợp nhau, bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm nay, không còn quan tâm liên lạc gì với nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C.
Về con chung: Chị và anh C có 01 con chung là Phùng Minh N, sinh năm 1998. Hiện cháu N đã trưởng thành nên chị không đề nghị giải quyết.
Về tài sản chung, vay nợ chung: Không đề nghị tòa án giải quyết.
2. Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi giấy báo nhiều lần cho anh C (mẹ đẻ anh C nhận thay) nhưng anh C đều vắng mặt, không đến Toà án làm việc theo giấy báo, do vậy Toà án không thể tiến hành hòa giải vụ án được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại biên bản ghi lời khai của bà Nguyễn Thị X (mẹ đẻ anh C), ngày 14/6/2024, bà X cho biết:
Anh C và chị M kết hôn vào năm 1997, có đăng ký tại UBND xã H nay là xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, trên cơ sở hai bên hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị sinh sống tại xã H và có đăng ký hộ khẩu thường trú tại đây. Anh C và chị M đã sống ly thân được hơn chục năm nay vì trong quá trình chung sống vợ chồng hay sảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do không hợp nhau, bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng hay cãi vã, xô xát. Các giấy báo và văn bản tố tụng của Toà án gửi cho anh C, bà nhận thay thì đều đã đưa lại cho anh C. Anh C nói lại với bà là bận đi làm nên không đến Toà án làm việc được. Nay chị M làm đơn xin ly hôn, quan điểm của anh C là đồng ý ly hôn, nhưng do anh C bận đi làm nên anh đề nghị Toà án giải quyết và xét xử vắng mặt.
Về con chung: Anh C và chị M có 01 con chung là Phùng Minh N, sinh năm 1998. Hiện cháu N đã trưởng thành nên không đề nghị giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh C và chị M không có.
3. Qúa trình giải quyết vụ án các bên đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm của mình. Bị đơn anh C đã được Tòa án gửi thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Nhưng anh C không đến Tòa. Do vậy Tòa án không thể tiến hành hòa giải vụ án được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.
4. Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng theo quy định của pháp luật không có vi phạm gì và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, Điều 207, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a, khoản 5 điều 27 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về thu, nộp và sử dụng, án phí, lệ phí toà án:
- + Xử cho chị Trần Thị M được ly hôn anh Phùng Minh C.
- + Về con chung: Cháu Phùng Minh N, sinh năm 1998, đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết.
- + Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
- + Về án phí: Chị M phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Quan hệ trong vụ án này là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn là chị Trần Thị M và bị đơn là anh Phùng Minh C, chị M và anh C đều có nơi cư trú tại xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Nguyên đơn chị M đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án xét xử vắng mặt chị M. Tòa án đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và thông báo mở lại phiên tòa hợp lệ cho anh C nhưng anh C không đến Tòa án để tham gia phiên tòa. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh C.
[2]. Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị M và anh C là hôn nhân hợp pháp, hai bên kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào năm 1997 tại UBND xã H cũ, nay là xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị cùng nhau sinh sống tại xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Lời trình bày của các đương sự và chứng cứ thu thập được cho thấy vợ chồng anh chị có sảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do không hợp nhau, bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Nhiều năm nay vợ chồng anh chị đã sống ly thân nhau, chị M đã đi làm ăn xa, thi thoảng mới trở về địa phương, vợ chồng anh chị hiện không còn chung sống cùng nhau nữa. Xét thấy cuộc hôn nhân giữa chị M và anh C là mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ lâu, mục đích hôn nhân không đạt được do vậy cần xử cho chị M được ly hôn anh C là phù hợp với khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị M và anh C thống nhất vợ chồng có 01 con chung là Phùng Minh N, sinh năm 1998, hiện con chung đã trưởng thành nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Do vậy HĐXX không đặt ra giải quyết.
[4] Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Không đề nghị tòa án giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị C phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp cần chấp nhận.
[7] Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, Điều 207, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Đ a khoản 5 điều 27 nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về thu, nộp và sử dụng, án phí, lệ phí toà án.
1. Xử: cho chị Trần Thị M được ly hôn anh Phùng Minh C.
2. Về con chung: Cháu Phùng Minh N, sinh năm 1998, đã thành niên nên không đặt ra giải quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị M phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị M đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí ký hiệu BLTU/2023, số 0002211, ngày 21/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
Báo cho các đương sự (vắng mặt) tại phiên toà biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết bản án, để đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Khanh |
Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG - TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 40/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG - TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị Trần Thị M ly hôn anh Phùng Minh C
