|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24/4/2024
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Thanh Khiêm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Thanh Dũng
- Ông Lê Hoàng Long
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mỹ Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 197/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2024/QÐST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 185/2024/QÐST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Trúc L, sinh năm 1978. Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
* Bị đơn: ông Phạm Tấn S, sinh năm 1977. Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trúc L trình bày tại đơn khởi kiện như sau: bà và ông Phạm Tấn S tự nguyện tiến tới quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T vào ngày 31 tháng 10 năm 2000 theo quy định pháp luật. Thời gian đầu sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, cùng nhiều nguyên nhân khác. Hai bên đã cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả nên vợ chồng ly thân từ lâu. Nhận thấy, cuộc sống chung không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Phạm Tấn S.
Về con chung: bà và ông Phạm Tấn S có con chung tên Phạm Ngọc T (nữ), sinh năm 1999 và cháu Phạm Tấn Đ (nam), sinh ngày 09/6/2009 hiện đang sống với bà nên khi ly hôn, bà yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đ, bà không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung bà tự khai không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn là ông Phạm Tấn S, trong suốt quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông đều vắng mặt nên vụ kiện không thể hòa giải được, do đó Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông Phạm Tấn S theo quy định về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn.
Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn với ông Phạm Tấn S.
Bị đơn Phạm Tấn S vắng mặt tại phiên tòa nên không ghi nhận được ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về thủ tục tố tụng: vụ kiện đã được thụ lý theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- [2] Xét về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị Trúc L yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Tấn S. Hội đồng xét xử thấy rằng tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về ly hôn giữa công dân với công dân thuộc ngành Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- [3] Xét về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Trúc L và ông Phạm Tấn S tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn nên xem đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Mâu thuẫn phát sinh do tính tình không hợp nhau, vợ chồng có sự bất đồng quan điểm sống, mặc dù hai bên cũng có tạo điều kiện hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả và hiện tại bà L và ông S đã sống ly thân. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm giữa bà L và ông S đã thực sự rạn nứt, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó có đủ căn cứ để xét yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Trúc L là có cơ sở chấp nhận.
- [4] Đối với bị đơn: ông Phạm Tấn S đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông S vẫn vắng mặt chứng tỏ ông không thiết tha việc hàn gắn tình cảm vợ chồng, do đó Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết xét xử vắng mặt đối với ông S theo đúng quy định pháp luật khi xét xử vắng mặt bị đơn.
- [5] Về con chung: bà và ông Phạm Tấn S có con chung tên Phạm Ngọc T (nữ), sinh năm 1999 và cháu Phạm Tấn Đ (nam), sinh ngày 09/6/2009 hiện đang sống với bà L. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện tại cháu Đ đang sống cùng bà L nhằm tạo điều kiện sinh hoạt tốt nhất cho cháu. Nên Hội đồng xét xử nghĩ cần tiếp tục giao cháu Đ cho bà Trúc L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, ông S không cấp dưỡng nuôi con, nếu có tranh chấp về phí cấp dưỡng nuôi con sẽ được giải quyết thành vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
- [6] Về tài sản chung và nợ chung: bà Nguyễn Thị Trúc L trình bày là không có nhưng do xét xử vắng mặt ông Phạm Tấn S nên sẽ được tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi đương sự có yêu cầu.
- [7] Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trúc L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trúc L.
Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Trúc L được ly hôn với ông Phạm Tấn S.
Về con chung: Giao cháu Phạm Tấn Đ (nam), sinh ngày 09/6/2009 cho bà Nguyễn Thị Trúc L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, ông S không phải cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông Phạm Tấn S không ai được quyền ngăn cản.
Về tài sản chung và nợ chung: bà Nguyễn Thị Trúc L trình bày là không có nên không xem xét, nhưng do xét xử vắng mặt ông Phạm Tấn S nên sẽ được giải quyết thành vụ kiện khác khi đương sự có yêu cầu.
Về án phí: bà Nguyễn Thị Trúc L phải nộp 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005479 ngày 17/10/2023 thành án phí.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết nơi bị đơn cư trú.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
* Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Phan Thanh Dũng Lê Hoàng Long |
Lê Thanh Khiêm |
Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 40/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
