Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NÔNG CỐNG

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HS-ST

Ngày 23-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Kỳ Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đức Thuận và ông Trịnh Duy Cường

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Danh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Hữu Bạo - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Ngô Văn H (Tên gọi khác: Ngô Thanh H1), sinh ngày 01 tháng 4 năm 1976 tại thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: tiểu khu V, thị trấn N huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Đình T (đã chết), con bà: Lê Thị T1, sinh năm 1945, mẹ hiện sinh sống tại tiểu khu V, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con út; bị cáo có vợ là Đỗ Thị H2 sinh năm 1979 và có 02 con, con lớn sinh năm 2000 con nhỏ sinh năm 2010, hiện vợ con bị cáo cư trú tại tiểu khu V, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Nhân thân: Năm 2007 bị Toà án nhân huyện N, tỉnh Thanh Hóa xử phạt tiền 5.000.000₫ về tội Đánh bạc theo bản án số 49/2007/HSST ngày 13/12/2007. Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/10/2023 sau đó chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N. Bị cáo tạm giam, có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Ngô Văn S, sinh ngày 12/6/1986 tại xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Văn H3, sinh năm 1957; con bà: Trần Thị P, sinh năm 1961, bố mẹ hiện sinh sống tại thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; gia đình có 06 chị em, bị cáo là con thứ tư; bị cáo có vợ là Hoàng Thị H4 sinh năm 1987 và có 02 con, con lớn sinh năm 2008 con nhỏ sinh năm 2014, hiện vợ con bị cáo cư trú tại thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa;

Nhân thân: Năm 2013 bị Toà án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội đánh bạc; ngày 26/4/2022 bị Công an xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, đã chấp hành xong việc nộp phạt. Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/10/2023 sau đó chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N. Bị cáo tạm giam, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1971.
  2. Địa chỉ: thôn Đoài Đông, xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá

  3. Ông Bùi Ngọc T2, sinh năm 1971.
  4. Địa chỉ: thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa

  5. Bà Hoàng Thị H4, sinh năm 1988.
  6. Địa chỉ: thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa

Tại phiên tòa có mặt bà H4, vắng mặt ông T2 và ông L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Văn H, Ngô Văn S, Nguyễn Văn LBùi Ngọc T2 là một nhóm các đối tượng thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy và có quan hệ quen biết với nhau từ trước.

Vào trưa ngày 27/10/2023, Nguyễn Văn L đến nhà Bùi Ngọc T2 để câu cá. Trong khi đang ngồi câu cá, do muốn sử dụng ma túy nhưng không có tiền nên L gọi điện thoại cho Ngô Văn H và nói “Có ma túy không, ta làm một vài khói, nhưng hôm nay không có tiền”. H nói lại với L “Không có tiền thì chơi cái chỉ”. Lúc này, L nói lại sự việc với Bùi Ngọc T2 thì T2 nói với L “tôi có 200.000 đồng, ông gọi lại cho H, ta vào sử dụng một tí”. Sau đó, cả LT2 đều gọi cho H và nói có 200.000 đồng có vào được không? H nói với LT2 “200.000 đồng thì chơi cái chỉ” rồi lấy lý do đang bận và bảo lúc nào có ma túy sẽ gọi lại sau.

Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, sau khi Ngô Văn HNgô Văn S đi thăm người thân của Ngô Văn H ở huyện N, tỉnh Thanh Hóa về đến nhà H. H rủ Ngô Văn S ra khu vực nghĩa trang T6 T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa để sử dụng ma túy thì S đồng ý. Lúc này, H lấy 01 gói ma túy trước đó đã giấu ở bờ tường cạnh cổng nhà mình, gói ma túy này H khai nhận mua của Ngô Văn L1, sinh năm 1994 ở tiểu khu B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vào sáng ngày 27/10/2023. Sau đó, H gọi điện thoại cho L và nói “Có ma túy rồi, vào đi” và hướng dẫn L đi vào khu vực nghĩa trang để cùng sử dụng ma túy. Sau khi đi đến nghĩa trang H6 và S đi vào khu mộ của dòng họ Lê Đ để sử dụng ma túy. Tại đây, H lấy gói ma túy ra mở sẵn để trên nền đất rồi lấy một mảnh giấy bạc ra để HS cùng sử dụng bằng hình thức hít. H lấy một ít ma túy bỏ vào giấy bạc rồi dùng bật lửa đốt để hít, dùng xong H đưa cho S, S lấy bật lửa của mình mang theo trong người từ trước và đốt lửa để hít. Lúc này, H nhận điện thoại của L, L hỏi H đang ở đâu và nói đã đi đến bờ đê tiểu khu V nhưng không biết đường vào nghĩa trang. Lúc này, H nói với S đi ra ngoài đường để đón LT2 vào để cùng sử dụng ma túy. S đồng ý và đi xe máy ra đón được LT2 vào chỗ H đang sử dụng ma túy. Vào đến nơi, T2 vào trước và lấy trong người ra 200.000 đồng đưa cho H, H cầm tiền và bốc một ít ma túy từ gói ma túy mà HS đang sử dụng đưa cho Thược để T2 sử dụng bằng hình thức tiêm chích. L đi vệ sinh nên vào sau, khi L đi vào H nói với L ngồi xuống cùng sử dụng số ma túy còn lại với HS. Lúc này, H lấy một ít ma túy bỏ vào giấy bạc rồi đốt lửa hít, sau khi hít xong H đưa giấy bạc cho S hít, S hít xong thì đưa giấy bạc cho L hít. Sau khi L hít xong thì đưa lại tờ giấy bạc cho S. Do ma túy trong giấy bạc đã hết nên S bốc một ít ma túy từ gói ma túy bỏ vào giấy bạc và đốt lửa hít, xong S đưa lại cho L, khi L đang hít (lần 2) thì bị lực lượng Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa phát hiện bắt quả tang, còn H thì bỏ chạy khỏi hiện trường, đến tối cùng ngày, H đến Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa đầu thú.

Ngày 30/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã trưng cầu Phòng K Công an tỉnh T giám định đối với các mẫu vật đã thu giữ được. Tại Bản kết luận giám định số 4033/KL-KTHS ngày 03/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:

- Các cục vụn, màu trắng ngà đựng trong gói giấy của phong bì niêm phong, ký hiệu M, gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,018g (không phẩy không một tám gam), loại: Heroine

- Tìm thấy chất ma túy, loại: Heroine bám dính trên mảnh giấy bạc đã qua sử dụng của phong bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định. Không xác định được khối lượng chất bám dính;

- Tìm thấy chất ma túy, loại: Heroine, M bám dính trong xilanh loại 03ml/cc của phong bì miêm phong, ký hiệu X gửi giám định.

Cơ quan điều tra cũng đã tiến hành thu thập mẫu nước tiểu của Ngô Văn H, Ngô Văn S, Nguyễn Văn LBùi Ngọc T2 và ra Quyết định trưng câu V Bộ C giám định đối với mẫu nước tiểu thu giữ được của các đối tượng.

Tại kết luận giám định số 8120/KL-KTHS ngày 16/11/2023 của V Bộ C kết luận: Đều tìm thấy sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Heroine (6-Monoacetylmorphine, M) trong các mẫu nước tiểu thu của Ngô Văn H, Ngô Văn S. Nguyễn Văn LBùi Ngọc T2 gửi giám định.

Quá trình điều tra, Ngô Văn HNgô Văn S còn khai nhận trước đó S đã nhiều lần đưa tiền (từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng) cho H, nhờ H mua hộ ma túy về để SH cùng sử dụng nhưng không nhớ rõ thời gian, địa điểm sử dụng ma túy cùng nhau nên Cơ quan điều tra không xác định được các lần sử dụng trái phép chất ma túy theo lời khai của SH.

Tại bản cáo trạng số 37/CT-VKSNC ngày 03/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Ngô Văn HNgô Văn S về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của pháp luật và tuyên phạt bị cáo cụ thể như sau:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Ngô Văn H từ 08(tám) năm tù đến 08(tám) năm 06(sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Ngô Văn S từ 07(bảy) năm 06(sáu) tháng tù đến 08(tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ.

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave RSX màu xám đen, BKS: 36B8-558.49 thu giữ của Bùi Ngọc T2. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên thuộc sở hữu của anh Bùi Ngọc T3 (con trai của Bùi Ngọc T2). Việc Bùi Ngọc T2 sử dụng chiếc xe trên để đi vào thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa sử dụng trái phép chất ma túy anh T3 không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh Bùi Ngọc T3 là đúng quy định của pháp luật.

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định và các vật dụng dùng để sử dụng ma túy được niêm phong trong 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do phòng Kỹ thuật sình sự Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Trần Thị Thúy H5, Lê Minh T4, Lê Công A và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T. Bên trong chứa toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong; 01 ống xilanh loại 03ml/cc; 01 mảnh giấy bạc và 0,009g ma túy của các phong bì ký hiệu X, M là các mẫu vật còn lại sau giám định; 02 (hai) chiếc bật lửa ga màu vàng.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước chiếc điện thoại của Ngô Văn H, Bùi Ngọc T2Nguyễn Văn L. Đây là những phương tiện để H liên lạc với T2L.

- Đối với số tiền 200.000₫ Ngô Văn H nhận được từ Bùi Ngọc T2Nguyễn Văn L xác định đây là tiền do phạm tội mà có, đề nghị Hội đồng xét xử truy thu của bị cáo để nộp vào ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, màn hình cảm ứng đã bị vỡ, màu xanh, kèm sim đã qua sử dụng thu giữ của Ngô Văn S nhưng chiếc điện thoại này S không sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu trắng xám, BKS: 36B3- 602.06, đã qua sử dụng thu giữ của Ngô Văn S nhưng chiếc xe máy này bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe máy cho bị cáo.

- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo nhận tội, không tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát, nhận thấy hành vi của mình là trái quy định của pháp luật, ân hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong phạm vi Tòa án xét xử đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Như vậy, đủ cơ sở chứng minh:

Hồi 16 giờ ngày 27/10/2023 tại khu mộ dòng họ Lê Đức ở nghĩa trang thuộc địa phận tiểu khu V, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Ngô Văn HNgô Văn S đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhau và cho Bùi Ngọc T2Nguyễn Văn L.

Trong đó Ngô Văn H là người chuẩn bị ma túy và giấy bạc từ trước, rủ Ngô Văn S đến khu vực nghĩa trang để sử dụng ma túy, sau đó Ngô Văn H đã chỉ đạo Ngô Văn S đi đón Bùi Ngọc T2Nguyễn Văn L vào nghĩa trang để sử dụng ma túy. Khi sử dụng ma túy, H lấy ma túy đưa cho Bùi Ngọc T2 sử dụng và bốc ma túy bỏ vào giấy bạc để H, SL sử dụng. Ngô Văn S là người biết H tổ chức sử dụng ma túy và tham gia giúp sức cho H trong việc đi đón Bùi Ngọc T2Nguyễn Văn L vào địa điểm sử dụng ma túy và có hành vi đưa công cụ sử dụng ma túy cho những người khác sử dụng.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận Ngô Văn HNgô Văn S về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 điều 255 của Bộ luật Hình sự. Do đó bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Đối với hành vi của anh Bùi Ngọc T2 và anh Nguyễn Văn L có đưa cho Ngô Văn H số tiền 200.000đ khi sử dụng ma túy thấy rằng đây là việc anh T2 và anh L trả tiền cho H để được sử dụng ma túy vì ma túy đã được H chuẩn bị sẵn từ trước. Vì vậy đây là việc trả tiền để được sử dụng ma túy, không phải hành vi góp tiền mua ma túy. Trong khi sử dụng ma túy, anh T2 và anh L không có hành vi đưa ma túy vào cơ thể người khác. Vì vậy việc không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh T2 và anh L là đúng quy định của pháp luật.

Đối với anh Ngô Văn L1: Theo lời khai của Ngô Văn H, anh L1 là người bán 01 (một) gói ma túy cho H với giá 500.000 đồng vào sáng ngày 27/10/2023. Tuy nhiên, quá trình điều tra, anh L1 không thừa nhận việc bán ma túy cho H. Cơ quan điều tra cũng đã tiền hành đối chất giữa anh L1Ngô Văn H nhưng không làm rõ được mâu thuẫn. Ngoài lời khai của Ngô Văn H, Cơ quan điều tra không thu thập được tài liệu, chứng cứ nào khác nên việc không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Ngô Văn L1 về hành vi mua bán trái phép chất ma túy là đúng quy định của pháp luật.

[3] Tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Ma túy là chất cấm mua bán và sử dụng, việc sử dụng ma túy sẽ mất đi việc kiểm soát hành vi của mình, làm ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người sử dụng. Cũng vì việc sử dụng ma túy đã làm cho bao nhiêu gia đình tan vỡ; việc sử dụng ma túy là một trong những con đường lây lan căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS chưa có thuốc chữa trị đặc hiệu và việc sử dụng ma túy cũng đã làm phát sinh rất nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo nhận thức rõ về tác hại ma túy nhưng vẫn tổ chức sử dụng, vì vậy cần phải xét xử các bị cáo với một mức án thật nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, cần xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[4] Đánh giá vai trò của các bị cáo trong vụ án:

Trong vụ án này có nhiều người tham gia cùng nhau thực hiện tội phạm nhưng không có sự bàn bạc, phân công trách nhiệm, vai trò của từng người từ trước nên chỉ là đồng phạm giản đơn.

Trong vụ án này, Ngô Văn H là người chuẩn bị ma túy và các vật dụng khác để sử dụng ma túy, là người rủ Ngô Văn S cùng sử dụng ma túy cũng như tổ chức cho Bùi Ngọc T2Lê Văn L2 sử dụng ma túy nên giữ vai trò chính trong vụ án.

Ngô Văn S là người giúp sức cho Ngô Văn H trong việc tổ chức sử dụng ma túy, bị cáo đã đi đón anh T2 và anh L2 vào sử dụng ma túy, có hành vi đưa công cụ sử dụng ma túy cho anh L2 và anh T2 sử dụng ma túy nên giữ vai trò tiếp theo trong vụ án.

[5] Về nhân thân của các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[5.1] Về nhân thân của các bị cáo:

- Đối với Ngô Văn H: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về tội đánh bạc nhưng đến khi thực hiện hành vi phạm tội đã được xóa án tích.

- Đối với Ngô Văn S: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về tội đánh bạc, sau khi được xóa án tích vẫn tiếp tục có hành vi đánh bạc nên tiếp tục bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã chấp hành xong việc nộp phạt.

[5.2] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, Ngô Văn H sau khi bỏ trốn đã ra đầu thú và có bố là người tham gia kháng chiến được tặng thưởng huân chương thuộc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt:

Để tăng cường công tác đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy cần phải xét xử các bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo mới có thể cải tạo các bị cáo thành người có ích cho xã hội và giáo dục phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt, cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được hưởng cũng như vai trò của từng bị cáo trong vụ án.

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[7] Xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave RSX màu xám đen, BKS: 36B8-558.49 thu giữ của Bùi Ngọc T2. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên thuộc sở hữu của anh Bùi Ngọc T3 (con trai của Bùi Ngọc T2). Việc Bùi Ngọc T2 sử dụng chiếc xe trên để đi vào thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa sử dụng trái phép chất ma túy anh T3 không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh Bùi Ngọc T3 là đúng quy định của pháp luật.

- Xác định số ma túy thu giữ được của các bị cáo tại nơi tổ chức sử dụng ma túy là hàng hóa cấm lưu hành; các vật dụng phục vụ cho việc sử dụng ma túy của các bị cáo là tang vật vụ án, không có giá trị sử dụng. Vì vậy cân tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định và các vật dụng dùng để sử dụng ma túy được niêm phong trong 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do phòng Kỹ thuật sình sự Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Trần Thị Thúy H5, Lê Minh T4, Lê Công A và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T. Bên trong chứa toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong; 01 ống xilanh loại 03ml/cc; 01 mảnh giấy bạc và 0,009g ma túy của các phong bì ký hiệu X, M là các mẫu vật còn lại sau giám định; 02 (hai) chiếc bật lửa ga màu vàng.

- Xác định những chiếc điện thoại thu giữ của Ngô Văn H, Bùi Ngọc T2Nguyễn Văn L đã được Ngô Văn H dùng để liên lạc với T2L đề rủ nhau sử dụng ma túy là phương tiện phạm tội, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước những chiếc điện thoại nay là đúng quy định của pháp luật.

- Đối với số tiền 200.000₫ Ngô Văn H nhận được từ Bùi Ngọc T2Nguyễn Văn L xác định đây là tiền do phạm tội mà có, vì vậy cần truy thu của bị cáo để nộp vào ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, màn hình cảm ứng đã bị vỡ, màu xanh, kèm sim đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu trắng xám, BKS: 36B3- 602.06, đã qua sử dụng thu giữ của Ngô Văn S nhưng chiếc điện thoại và xe mô tô này S không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 255 của Bộ luật Hình sự.
  2. Tuyên bố các bị cáo Ngô Văn HNgô Văn S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

    Căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt Ngô Văn H 07(bảy) năm 08(T5) tháng tù. Thời chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (27/10/2024).

    Căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt Ngô Văn S 07(bảy) năm 05(năm) tháng tù. Thời chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (27/10/2024).

  3. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  4. 2.1. Tịch thu tiêu hủy:

    • - 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do phòng Kỹ thuật sình sự Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Trần Thị Thúy H5, Lê Minh T4, Lê Công A và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T. Bên trong chứa toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong; 01 ống xilanh loại 03ml/cc; 01 mảnh giấy bạc và 0,009g ma túy của các phong bì ký hiệu X, M còn lại sau giám định.
    • - 02 (hai) chiếc bật lửa ga màu vàng.

    2.2. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

    • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J7Pro, màn hình cảm ứng, màu đen, kèm sim đã qua sử dụng của Ngô Văn H;
    • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy M52, màn hình cảm ứng, màu xanh, số seri: RFCRA1HBK2Z, kèm sim đã qua sử dụng của Bùi Ngọc T2;
    • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màn hình cảm ứng, màu xanh, số seri: 0161C03S23100FE6, kèm sim đã qua sử dụng của Nguyễn Văn L.

    2.3. Trả lại cho Ngô Văn S:

    • - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, màn hình cảm ứng đã bị vỡ, màu xanh, kèm sim đã qua sử dụng;
    • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu trắng xám, BKS: 36B3- 602.06, đã qua sử dụng.

    (Các vật chứng nêu trên được mô tả chi tiết và đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa và Chi cục THADS huyện N, tỉnh Thanh Hóa ngày 06/6/2024).

    2.4. Truy thu của Ngô Văn H số tiền 200.000₫(Hai trăm nghìn đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.

  5. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  6. Các bị cáo: Ngô Văn HNgô Văn S mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt các bị cáo; vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Nông Cống;
  • - Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Công an huyện Nông Cống;
  • - Chi cục THADS Nông Cống;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Kỳ Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 40/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Văn H và ĐP phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger