|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 40/2024/DS-PT Ngày 23-4-2024 V/v tranh chấp về thừa kế tài sản, tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Quang Kiên
Ông Nguyễn Hồng Giang
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang Nhung- Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 10/2024/DS-PT ngày 07 tháng 3 năm 2024 về việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản và tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 19/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 25/2024/QĐXXPT ngày 27 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2024/QĐ-PT ngày 12 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Cụ Đỗ Thị T; nơi cư trú: Thôn E, xã D, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Đào Thị M; nơi cư trú: Thôn E, xã D, huyện K, thành phố Hải Phòng là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Giấy ủy quyền ngày 06/7/2023); có mặt.
- Bị đơn: Ông Đào Quang Đ; nơi cư trú: Thôn E, xã D, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đào Quang K; nơi cư trú: Thôn E, xã D, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Bà Đào Thị H; nơi cư trú: Ngõ I L, phường M, Quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bà Đào Thị M; nơi cư trú: Thôn E, xã D, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bà Đào Thị S; nơi cư trú: Thôn D, xã K, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bà Đào Thị L; nơi cư trú: Thôn E, xã D, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bà Đào Thị K1; nơi cư trú: Số H + 8 Đà Nẵng, phường C, Quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Ông Trịnh Tiến V; nơi cư trú: Số A N, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Bà Đào Ngọc B; nơi cư trú: Thôn E, xã D, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người kháng cáo: Ông Đào Quang Đ là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đơn khởi kiện và trình bày tại Toà án cấp sơ thẩm của nguyên đơn cụ Đỗ Thị T và người đại diện theo uỷ quyền của cụ T có nội dung:
Cụ Đỗ Thị T và chồng là cụ Đào Quang K2 có 07 người con là: Đào Quang K, sinh năm 1957; Đào Thị H, sinh năm 1958; Đào Thị M, sinh năm 1964; Đào Thị S, sinh năm 1966; Đào Thị L, sinh năm 1969; Đào Thị K1, sinh năm 1976 và Đào Quang Đ, sinh năm 1981. Cụ K2 không có người con nào khác và không có con nuôi. Cụ K2 mất năm 2007, không có di chúc.
Khoảng năm 1989, cụ T và cụ K2 được Uỷ ban nhân dân (UBND) xã K, huyện K, Hải Phòng bán thanh lý cho 01 gian hàng có diện tích khoảng 28m² (theo đo đạc hiện trạng là 32.5m²) tại khu vực Chợ M, xã K (nay là thôn Q (thôn E), xã D) huyện K, Hải Phòng, với giá là 750.000 đồng. Cụ T, cụ K2 đã xây dựng 01 căn nhà để làm nghề khám bệnh đông y. Đến năm 2003, UBND xã K đã thu nốt số tiền thanh lý cửa hàng là 6.900.000 đồng, có Phiếu thu của UBND xã K.
Năm 2006, ông Đào Quang Đ tự ý đi làm trích đo đối với thửa đất này trong khi cụ T và cụ K2 hoàn toàn không biết (thời gian này cụ K2 đang ốm, nằm liệt giường).
Sau khi cụ K2 mất (năm 2007), bà Đào Thị S bán thuốc đông y ở đây. Đến khoảng năm 2008-2009 bà S về công tác tại Trạm y tế xã K, thì ông Đ tiếp tục sử dụng để làm quán bán thuốc đông y. Cụ T ở cùng với vợ chồng ông Đ cho đến khoảng năm 2019-2020 thì sức khoẻ của cụ T yếu, không có khả năng lao động và tự sinh hoạt được. Tuy nhiên, ông Đ không quan tâm chăm sóc, không phụng dưỡng cụ T. Kể từ khi cụ T đi chữa bệnh (năm 2020) cho đến nay thì cụ T không còn nơi để về, phải ở tại nhà con gái là Đào Thị K1.
Quá trình giải quyết vụ án, cụ T mới được biết ông Đ đã tự ý bán gian quán cho ông Trịnh Tiến V với giá 2.500.000.000 đồng theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 02/01/2022. Việc ông Đ tự ý bán diện tích đất trên cụ T không biết và không có sự đồng ý của cụ T cũng như các thành viên khác trong gia đình. Số tiền ông Đ bán đất (nếu có) cụ T cũng không biết và không được sử dụng.
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Chia di sản thừa kế của cụ Đào Quang K2 là phần diện tích đất 16,25m² và ½ giá trị tài sản trên đất trong tổng số diện tích 32.5 m² tại khu vực Chợ M, xã K (nay là thôn Q (thôn E), xã D, huyện K, thành phố Hải Phòng, theo quy định của pháp luật. Cụ thể đề nghị phân chia di sản như sau: Tính trị giá 16,5m² đất và ½ trị giá tài sản trên đất sau đó chia đều thành 8 phần bằng nhau. Cụ T được quyền sử dụng toàn bộ diện tích đất 32.5m² và tài sản trên đất; đồng thời có trách nhiệm thanh toán bằng tiền cho 07 đồng thừa kế khác trị giá suất thừa kế mà họ được hưởng.
- Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được ký kết giữa ông Đ và ông V ngày 02/01/2022 vô hiệu. Không đề nghị Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
Bị đơn ông Đào Quang Đ trình bày:
Thống nhất với lời khai của nguyên đơn về diện và hàng thừa kế của cụ K2. Diện tích đất 28m² tại thôn E, xã K, huyện K, thành phố Hải Phòng, trên đất có 01 gian quán là tài sản chung của cụ T và cụ K2.
Từ năm 1994, ông Đ sinh sống cùng cụ K2 tại gian quán. Cụ K2 có nói cho ông Đ diện tích đất này, không có ai chứng kiến. Ngày 27/3/2006, ông Đ được UBND xã D cấp trích đo diện tích đất. Tuy nhiên, về kích trước của thửa đất ghi trong bản trích đo không đúng với hiện trạng của thửa đất. Hiện trạng thửa đất theo như sơ đồ mà Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ là đúng. Việc ông Đ làm thủ tục cấp trích đo thửa đất chỉ có ông Đ và cụ K2 biết.
Sau khi cụ K2 mất, ông Đ ở quán để kinh doanh thuốc và có sửa chữa 03 lần. Tổng số kinh phí sửa chữa khoảng hơn 200.000.000 đồng.
Trước khi cụ K2 mất có làm bản di chúc với nội dung để lại gian quán để bán thuốc và nuôi dưỡng cụ T. Ông Đ không giữ bản chính mà chỉ có bản photo nộp cho Tòa án.
Do làm ăn thua lỗ, ông Đ đã chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Trịnh Tiến V với giá 2,5 tỷ đồng từ năm 2022. Việc chuyển nhượng có lập hợp đồng chuyển nhượng nhưng không qua công chứng, chứng thực, có chữ ký của người làm chứng là ông Đào Văn N là hàng xóm. Việc ông Đ bán thửa đất có thông báo cho ông K. Ông K không có ý kiến gì. Ngoài ra không ai biết, không ai có ý kiến. Hiện nay, ông Đ vẫn đang thuê lại gian quán để kinh doanh thuốc đông y.
Về yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của nguyên đơn: Ông Đ không đồng ý. Vì khi còn sống cụ K2 đã cho ông Đ thửa đất để ông Đ tiếp tục kinh doanh thuốc và chăm sóc, nuôi dưỡng cụ T. Cụ K2 cũng để lại di chúc cho thửa đất cho người con tiếp tục kinh doanh thuốc là ông Đ. Về yêu cầu khởi kiện tuyên bố huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông cũng không đồng ý. Trường hợp Tòa án tuyên bố hợp đồng này vô hiệu thì ông Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Ông Đ cũng không yêu cầu về phần kinh phí, công sức cải tạo, sửa chữa quán cũng như công sức trong thời gian quản lý, sử dụng quán.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đào Quang K trình bày: Ông nhất trí với lời trình bày của nguyên đơn về di sản thừa kế của cụ K2 để lại cũng như diện, hàng thừa kế của cụ K2.
Về di chúc của cụ K2 để lại ông K cũng chỉ có bản photo, không lưu giữ bản gốc. Ông K không biết bản di chúc này có bản gốc hay không hoặc nếu có bản gốc thì ai cầm ông K cũng không biết. Sau khi cụ K2 mất cho đến nay, ông Đ sử dụng gian quán và bán thuốc đông y.
Về trích đo hiện trạng mặt bằng sử dụng đất ngày 27/3/2006 do UBND xã D cấp cho ông Đ, ông K không biết. Trích đo này cũng không đúng với hiện trạng đất. Ông K đồng ý với sơ đồ thửa đất do Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ xác định, diện tích đất là 32,5m².
Về việc ông Đ bán đất cho ông Trịnh Tiến V vào thời gian nào, bao nhiêu tiền, ông K không biết. Ông K không đồng ý, vì diện tích đất này chưa phải là diện tích đất hợp pháp của ông Đ mà là đất của cụ K2 và cụ T.
Về yêu cầu khởi kiện của cụ T: Ông K đồng ý. Ông đồng ý nhận phần thừa kế của mình trị giá bằng tiền. Ai muốn nhận phần đất và phần tài sản trên đất của ông K được chia thì phải có trách nhiệm trả ông bằng tiền có giá trị tương đương hoặc nếu cụ T lấy lại toàn bộ phần diện tích đất này để ở và các con khác đồng ý thì ông K đồng ý.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Đào Thị H, bà Đào Thị M, bà Đào Thị S, bà Đào Thị L, bà Đào Thị Kim thống n trình bày: Nhất trí với lời trình bày của nguyên đơn về di sản thừa kế của cụ K2 để lại cũng như diện, hàng thừa kế của cụ K2; đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà S có kinh doanh bán thuốc tại gian quán khoảng 1-2 năm nhưng không cải tạo, sửa chữa, không yêu cầu tính công sức đóng góp khi chia di sản thừa kế của cụ K2.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Tiến V trình bày:
Ngày 02/01/2022, ông V mua của ông Đ diện tích đất 28m² tại thửa đất số 04, tờ bản đồ số 03 tại thôn Q, xã D, huyện K, thành phố Hải Phòng, với giá 2.500.000.000 đồng. Việc mua bán giữa hai bên có làm hợp đồng viết tay, không qua công chứng, không có xác nhận của chính quyền địa phương, có chữ ký của người làm chứng là ông Đào Văn N. Ông V đã thanh toán toàn bộ tiền mua đất cho ông Đ. Ông Đ đã bàn giao cho ông V toàn giấy tờ liên quan đến thửa đất nêu trên.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 02/01/2022 vô hiệu, ông V không ý kiến. Trường hợp, Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông V cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đào Ngọc B trình bày:
Bà B và ông Đoàn kết h từ năm 2019. Bà B không đóng góp, không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến nhà, đất đang tranh chấp trong vụ án. Quá trình chung sống với ông Đ tại thửa đất này, ông Đ có sửa chữa một số hạng mục công trình nhỏ, không đáng kể và việc sửa chữa này do một mình ông Đ tự làm, tự bỏ chi phí.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 19/01/2024, Tòa án nhân dân huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 3, 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; các điều 147, 164, 165, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 117, 122, 123,129, 132, 213, 219, 280, 407, 611, 612, 613, 614, 623, 649,650, 651, 660, 688 của Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 167, Điều 188 Luật Đất đai; Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 điều 12, Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là cụ Đỗ Thị T về yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và chia di sản thừa kế của cụ Đào Quang K2 để lại tại thửa đất số 04, tờ bản đồ số 03 tại thôn E, xã D, huyện K, thành phố Hải Phòng, cụ thể:
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất ký ngày 02/01/2022 giữa ông Đào Quang Đ và ông Trịnh Tiến V vô hiệu. Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết hậu quả của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
- Xác định di sản của cụ Đào Quang K2 để lại là diện tích đất 16,25m² (giới hạn bởi các mốc 1a-2-3-4-5-6-7-7a-1a theo sơ đồ kèm theo bản án) trị giá 325.000.000 đồng và 1/2 trị giá tài sản trên đất bằng 75.127.000 đồng, tổng trị giá di sản là 400.127.000 đồng tại thửa đất số 04, tờ bản đồ số 03 tại thôn E, xã D, huyện K, thành phố Hải Phòng.
- Phân chia di sản của cụ Đào Quang K2 để lại như sau: Tính giá trị di sản cụ K2 để lại bằng tiền và chia đều thành 08 phần bằng nhau, mỗi suất thừa kế trị giá tương đương 50.015.875 đồng. Cụ T được nhận toàn bộ diện tích đất và tài sản gắn liền trên đất do cụ K2 để lại và có trách nhiệm hoàn trả giá trị cho các đồng thừa kế được hưởng di sản, cụ thể:
- Giao cụ Đỗ Thị T được quyền sở hữu quản lý, sử dụng diện tích đất 16.25m² (giới hạn bởi các mốc giới 1a-2-3-4-5-6-7-7a-1a) và toàn bộ tài sản gắn liền trên đất. Cụ T được quyền quản lý, sử dụng tổng diện tích là 32.5m² và tài sản gắn liền trên đất (bao gồm 16.25 m² thuộc quyền sở hữu của cụ T, giới hạn bởi các mốc giới 1-1a-7a-10-11-1), tại thửa đất số 4, tờ bản đồ số 03; địa chỉ: Thôn E, xã D, huyện K, thành phố Hải Phòng có các mốc giới 1-1a-2-3-4-5-6-7-7a-10-11-1 (theo sơ đồ kèm theo bản án).
- Đối với một phần công trình là nhà ở và mái che phía trước được xây dựng trên diện tích đất nằm trong hành lang an toàn giao thông theo các mốc 7-8-8a-9-10-7a-7 (theo sơ đồ kèm theo bản án), cụ Đỗ Thị T được tiếp tục sử dụng; trường hợp có yêu cầu, quyết định của cơ quan có thẩm quyền về việc tháo dỡ, di dời thì cụ T phải chấp hành việc tháo dỡ, chi phí tháo dỡ do người sử dụng tự chịu tại thời điểm tháo dỡ.
- Buộc cụ Đỗ Thị T phải có trách nhiệm thanh toán giá trị phần thừa kế cho ông Đào Quang K, bà Đào Thị H, bà Đào Thị M, bà Đào Thị S, bà Đào Thị L, bà Đào Thị K1, ông Đào Quang Đ mỗi người số tiền là 50.015.875 đồng (năm mươi triệu không trăm mười lăm nghìn, tám trăm bẩy lăm đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, lãi chậm thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 24/01/2024, bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị xét xử phúc thẩm vụ án theo quy định của pháp luật. Lý do kháng cáo: Toà án cấp sơ thẩm chia di sản thừa kế không đúng so với hiện trạng thửa đất và người đang quản lý sử dụng thửa đất. Thửa đất này ông Đ đã được thừa kế và là chủ sở hữu hợp pháp nên ông Đ có quyền chuyển nhượng cho ông V là hợp pháp.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị đơn rút toàn bộ kháng cáo theo đơn kháng cáo ngày 24/01/2024, đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm, đồng thời bổ sung yêu cầu kháng cáo: Yêu cầu người được giao diện tích đất 32.5m² và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 4, tờ bản đồ số 03; địa chỉ: Thôn E, xã D, huyện K, thành phố Hải Phòng, phải có trách nhiệm trả cho ông Đ số tiền chi phí sửa chữa căn nhà trên đất là 200.000.000 đồng.
Nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bà Đào Thị H, bà Đào Thị M, bà Đào Thị S, bà Đào Thị L, bà Đào Thị K1) trình bày: Giữ nguyên quan điểm đã trình bày ở Toà án cấp sơ thẩm, chấp nhận việc rút kháng cáo của bị đơn, không chấp nhận kháng cáo bổ sung của bị đơn và trình bày bổ sung: Bố mẹ cụ K2 đã mất từ lâu, trước thời điểm cụ K2 mất. Cụ K2 không có con riêng, con nuôi, bố mẹ nuôi.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký; nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bà H, bà M, bà S, bà L, bà K1, bà B) trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm đúng quy định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (ông K, ông V) chưa chấp hành đúng quy định, cụ thể vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai, không lý do.
Về nội dung: Nội dung kháng cáo bổ sung của bị đơn vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu nên căn cứ khoản 2 Điều 284 của Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Tại phiên toà, bị đơn rút toàn bộ kháng cáo ban đầu nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 289 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án. Bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Hồi đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Toà án nhân dân huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng đã thụ lý, giải quyết sơ thẩm vụ án dân sự đúng quy định theo khoản 3, 5 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; đã xác định đúng và đầy đủ đương sự tham gia tố tụng. Kháng cáo của nguyên đơn hợp lệ, đủ điều kiện xem xét phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (ông Đào Quang K, ông Trịnh Tiến V) vắng mặt lần thứ hai mặc dù đã được triệu tập hợp lệ, bà Đào Ngọc B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên theo khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn:
[3.1] Về kháng cáo bổ sung, tại Biên bản ghi lời khai ngày 06/12/2023 của Toà án nhân dân huyện Kiến Thuỵ, bị đơn trình bày: Sau khi cụ K2 mất, ông Đ ở gian quán (do cụ K2 và cụ T xây dựng trên diện tích đất tranh chấp) để kinh doanh thuốc và có sửa chữa quán 03 lần. Tổng số kinh phí sửa chữa khoảng hơn 200.000.000 đồng. Ông Đ không nhớ thời gian sửa chữa và không có tài liệu thể hiện việc này nên ông Đ không yêu cầu về phần kinh phí, công sức đã bỏ ra để cải tạo, sửa chữa gian quán. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết về công sức đóng góp của ông Đ. Tại phiên toà phúc thẩm ông Đ mới bổ sung yêu cầu về nội dung này. Xét phạm vi xét xử phúc thẩm theo Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: Toà án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm có kháng cáo hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo. Toà án cấp sơ thẩm không giải quyết yêu cầu về công sức đóng góp của bị đơn (do bị đơn không yêu cầu), việc bổ sung kháng cáo của bị đơn tại phiên toà phúc thẩm là vượt quá kháng cáo ban đầu theo khoản 2 Điều 284 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3.2] Xét việc rút toàn bộ kháng cáo ban đầu của bị đơn là tự nguyện, phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 284 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên chấp nhận.
[4] Với những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét đình chỉ xét xử phúc thẩm và giữ nguyên bản án sơ thẩm theo điểm b khoản 1 Điều 289, khoản 5 Điều 308, Điều 312 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5] Bị đơn rút kháng cáo tại phiên toà nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, khoản 3 Điều 296, điểm b khoản 1 Điều 289, khoản 5 Điều 308, Điều 312 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 4 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 10/2024/DS-PT ngày 07 tháng 3 năm 2024.
- Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 19/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 23/4/2024.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đào Quang Đ phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0007852 ngày 05/3/2024 Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Thuỷ |
Bản án số 40/2024/DS-PT ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp về thừa kế tài sản, tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu
- Số bản án: 40/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp về thừa kế tài sản, tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo bổ sung của bị đơn, đình chỉ xét xử do bị đơn rút toàn bộ kháng cáo ban đầu
