|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 40/2025/HNGĐ-ST Ngày: 23/01/2025 V/v tranh chấp “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ - TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Phong Phi
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Phước Tân
Bà Lê Bích Loan
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú. Tòa án nhân dân huyện An Phú mở xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 361/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2024 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1183/2024/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Cẩm Nh, sinh năm 1990; cư trú: Ấp Phú Trung, xã Phú Hội, huyện An Phú, tỉnh An Giang. (có đơn xin vắng mặt)
Bị đơn: Ông Trần Văn S, sinh năm 1991; cư trú: Tổ 13, ấp Phú Hòa, xã Phú Hữu, huyện An Phú, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
Chỗ ở hiện nay: Nhà trọ Nguyễn Thị Giang, tổ 28, ấp Trầu, xã Phước Thiền, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bà Nh nộp đơn xin ly hôn với ông S với nội dung như sau:
Hôn nhân giữa ông, bà được hình thành là do tự tìm hiểu được cha mẹ hai bên đứng ra tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn. Cuộc sống chung thời gian đầu tương đối hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp, thường xuyên cãi vã không tìm được tiếng nói chung. Ngoài ra ông S còn ăn chơi không quan tâm chăm lo cho vợ con và có hành vi bạo lực gia đình. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên đã không còn sống chung từ khoảng 02/2024. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin ly hôn với ông S.
Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Trần Đặng Đức Thịnh, sinh ngày 28/8/2018 và Trần Đặng Đức Phúc, sinh ngày 24/10/2020. Hiện cháu Thịnh đang sống cùng ông S, cháu Phúc đang sống cùng bà Nh. Khi ly hôn bà Nh yêu cầu tiếp tục nuôi cháu Phúc, đồng ý cho ông S tiếp tục nuôi cháu Thịnh và không yêu cầu cấp dưỡng.
Ông S vắng mặt, không có trình bày ý kiến.
Tài sản chung, nợ chung: Không có, cũng không ai nợ lại ông bà.
Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.
Chứng cứ mà Tòa án thu thập được:
Về nơi cư trú: Theo Biên bản xác minh ngày 18/12/2024 của Công an xã Phú Hữu thể hiện ông Trần Văn S vẫn còn đăng ký thường trú tại ấp Phú Hòa, xã Phú Hữu, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Về tình trạng hôn nhân: Bà Đặng Thị Bé Bảy – chị ruột của bà Nh cho biết hôn nhân giữa bà Nh và ông S phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng bất đồng quan điểm sống thường xuyên cãi vã dẫn đến bất hòa trong đời sống hôn nhân. Hiện nay ông bà không còn sống chung với nhau, hai bên gia đình đã cố gắng hòa giải nhưng không thành.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi lời khai, thủ tục xét xử, xác định quan hệ tranh châp, tư cách người tham gia tố tụng... là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục xét xử văng mặt được đảm bảo.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa cho thấy hôn nhân giữa Bà Nh và ông S có mâu thuẫn vợ chồng và không thể hàn gắn được, do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Hôn nhân giữa bà Nh và ông S là do tự tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Hữu, huyện An Phú, tỉnh An Giang là hôn nhân hợp pháp; bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Phú, nên yêu cầu xin ly hôn của bà Nh được tòa án thụ lý, giải quyết là đúng quy định tại Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 39 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa hai người hình thành là tự tìm hiểu yêu thương nhau, có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng thời gian sau phát sinh mâu thuẫn và ly thân nhau. Nay bà Nh xin ly hôn do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được.
Xét nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn ngay từ ban đầu là do bất đồng quan điểm, thường hay gây nhau, bỏ mặc nhau, không quan tâm, dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc. Hiện tại bà Nh xác định là không còn tình cảm với ông S và mâu thuẫn đã thật sự trầm trọng không có tiếng nói chung không thể tiếp tục chung sống với ông S.
Trong thời gian dài hai người không quan tâm nhau, căn cứ khoản 1 Điều 56 luật hôn nhân gia đình, thì ông bà đã vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 luật hôn nhân và gia đình 2014 “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”, do đó Tòa án nhận thấy cả hai vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó Tòa án giải quyết cho ly hôn là có căn cứ.
[3] Về quan hệ con chung: Trong quá trình chung sống bà Nh và ông S có 02 con chung tên Trần Đặng Đức Thịnh, sinh ngày 28/8/2018 và Trần Đặng Đức Phúc, sinh ngày 24/10/2020. Hiện cháu Thịnh đang sống cùng ông S, cháu Phúc đang sống cùng bà Nh.
Bà Nh có yêu cầu được nuôi cháu Phúc, đồng ý cho ông S tiếp tục nuôi cháu Thịnh và không yêu cầu cấp dưỡng con chung sau khi ly hôn. Xét thấy từ lúc ly thân cho đến nay thì cháu Phúc sống chung với bà Nh, cháu Thịnh sống chung với ông S nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà Nh và công nhận sự tự nguyện của bà Nh không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung.
Theo quy định của pháp luật bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho bên nuôi con, tuy nhiên ông S vắng mặt nên Tòa án không giải quyết nếu sau này ông S có yêu cầu cầu cấp dưỡng nuôi con thì sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
Hội đồng xét xử giải thích cho các đương sự biết: Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[4] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà Nh khai không có. Do ông S vắng mặt nên Tòa án không giải quyết nếu sau này ông S có tranh chấp thì sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
[5] Về án phí: Bà Nh là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Ông S không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Cẩm Nh
Về hôn nhân: Bà Đặng Thị Cẩm Nh được ly hôn với ông Trần Văn S.
Về con chung:
Giao cháu Trần Đặng Đức Thịnh, sinh ngày 28/8/2018 cho ông Trần Văn S nuôi dạy.
Giao cháu Trần Đặng Đức Phúc, sinh ngày 24/10/2020 cho bà Đặng Thị Cẩm Nh nuôi dạy.
Công nhận sự tự nguyện của bà Nh không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung và ngược lại. Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con không cố định sẽ có thay đổi khi có yêu cầu chính đáng của một hoặc cả hai bên.
Bên không trực tiếp nuôi con, không được lợi dụng quyền thăm con hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà gây ảnh hưởng đến việc nuôi dạy con của bên trực tiếp nuôi con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Về án phí: Bà Đặng Thị Cẩm Nh phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0010144 ngày 05/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú (Bà Nh đã nộp đủ).
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/01/2025) các đương sự được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của bà Nguyễn Thanh Hồng Phượng được tính kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phong Phi |
Bản án số 40/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ - TỈNH AN GIANG về xin ly hôn (hôn nhân gia đình)
- Số bản án: 40/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn (Hôn nhân gia đình)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ - TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xx
