|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 40/2024/HNGĐ-ST Ngày: 22/8/2024 “Về việc tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cúc Lan
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Hải
2. Ông Tạ Quang Trung
Thư ký phiên toà: Bà Hồ Thị Loan Anh - Thư ký của Toà án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
Trong ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 102/2024/TLST – HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2024/QĐXX-ST ngày 01 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1987
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1982
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:
Bà T và ông T1 tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn vào ngày 21/8/2012 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, về sau vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Nên bà T khởi kiện xin ly hôn với nội dung yêu cầu như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T yêu cầu xin được ly hôn với ông Nguyễn Văn T1.
Về con chung: Vợ chồng chung sống có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc N (nữ), sinh ngày 17/01/2007 và Nguyễn Ngọc N1 (nữ), sinh ngày 02/11/2013 bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không
Về nợ chung: Không.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông T1 nhiều lần đến Tòa án để tham gia giải quyết vụ án theo quy định của Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự. Tuy nhiên, bị đơn ông T1 vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được giữa các bên đương sự. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử công khai theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn bà T vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn với ông T1. Về con chung: Yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc N, Nguyễn Ngọc N1 và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không. Bị đơn ông T1 vắng mặt không rõ lý do, Tòa án đã tiến hành niêm yết xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà T khởi kiện xin ly hôn với ông T1 nên xác định đây là vụ án tranh chấp ly hôn, giữa công dân và công dân được pháp luật dân sự điều chỉnh, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự.
[2] Về tố tụng: Bị đơn ông T1 sinh sống tại địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ. Tòa án đã thực hiện các thủ tục tống đạt, niêm yết theo quy định, tuy nhiên phía bị đơn ông T1 vẫn vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông T1 tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào 21/8/2012 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ theo quy định Luật Hôn nhân và Gia đình. Hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, tiến bộ, các thành viên trong gia đình có sự quan tâm chăm sóc, giúp đỡ nhau. Tuy nhiên, theo bà T thì giữa bà và ông T1 đã phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cãi nhau cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn nên bà xin ly hôn với ông T1. Xét thấy mâu thuẫn giữa ông bà đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên việc bà T xin ly hôn với ông T1 là có căn cứ.
[4] Xét về con chung: Bà T, ông T1 chung sống có hai con chung tên Nguyễn Ngọc N (nữ), sinh ngày 17/01/2007 và Nguyễn Ngọc N1 (nữ), sinh ngày 02/11/2013. Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa bà T vẫn giữ yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con. Để tạo điều kiện thuận lợi cho cháu N, N1 trong sinh hoạt, vui chơi, học tập, cũng như phát triển tốt cả thể chất lẫn tinh thần, phù hợp với nguyện vọng của hai cháu. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà T. Về phần cấp dưỡng nuôi con chung: Do nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn bà T xác định là không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu xem xét giải quyết. Tuy nhiên phía bị đơn ông T1 vắng mặt nên về tài sản chung, nợ chung chưa xem xét giải quyết, nếu một trong các bên đương sự có yêu cầu thì được giải quyết thành vụ kiện khác.
[6] Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 174 Điều 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Điều 5, Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Văn T1.
- Về con chung: Giao Nguyễn Ngọc N (nữ), sinh ngày 17/01/2007 và Nguyễn Ngọc N1 (nữ), sinh ngày 02/11/2013 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
- Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông T1, không ai được quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chưa xem xét, trường hợp một trong các bên đương sự có yêu cầu thì được giải quyết thành vụ kiện khác.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, chuyển tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu số 0006296 ngày 13 /5 /2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện phong Đ, thành phố Cần Thơ thành án phí.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Cúc Lan |
Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 22/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 40/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
