Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 40/2024/HS-ST

Ngày: 22/5/2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Đỗ Thị Hương Lan.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Thị Thu Anh

Nguyễn Thị Hảo

- Thư ký phiên tòa: bà Lục Thanh Hương- Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa:Nguyễn Thị Thu H - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Thanh L, tên gọi khác: không; sinh ngày: 01/8/1977, tại: M, Quảng Ninh; nơi cư trú: số nhà A phố Q, khu E, phường K, thành phố M, Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức L1 và bà Nghiêm Thị Như B; có vợ và 02 con; tiền án; tiền sự: chưa; nhân thân: ngày 28/9/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, xử phạt 18 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; ngày 23/10/2019 chấp hành xong hình phạt. Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và tạm giữ ngày 06/10/2023, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M; có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Bùi Thị X, tên gọi khác: không; sinh ngày: 08/5/1988, tại: H, Quảng Ninh; nơi thường trú: khu H, phường H, thành phố M, Quảng Ninh; chỗ ở: số nhà A, phố L, khu T, phường H, thành phố M, Quảng Ninh nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đức V và bà Lương Thị P; chồng (đã ly hôn) và 03 con; tiền án, tiền sự: chưa; bị cáo bị bắt quả tang ngày 06/10/2023, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M, có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Nguyễn Trọng T, tên gọi khác: không; sinh ngày: 29/9/1974, tại: M, Quảng Ninh; nơi cư trú: số nhà A, phố L, khu T, phường H, thành phố M, Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị N1; vợ (đã ly hôn) và 02 con; tiền án; tiền sự: chưa; nhân thân: ngày 20/4/2016 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, xử phạt 24 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; ngày 08/6/2017 chấp hành xong hình phạt. Bị cáo đầu thú và tạm giữ ngày 06/10/2023, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M; có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Vũ Thị M, sinh năm 1979; nơi cư trú: khu E, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; có mặt tại phiên toà.

+ Huỳnh Thanh H1, sinh năm 1960; nơi thường trú: khu T, phường N, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở: khu T, phường H, thành phố M; có mặt tại phiên toà.

+ Nguyễn Tiến D, sinh năm 1994; nơi cư trú: khu T, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; có mặt tại phiên toà.

- Người làm chứng: Bùi Văn D1;

- Người chứng kiến: Vũ Đức T1, Chu Văn T2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Thị X và Nguyễn Trọng T chung sống như vợ chồng tại nhà số A, phố L, khu T, phường H, thành phố M và có quen biết Trần Thanh L. Khoảng giữa tháng 9/2023, trong một lần đến chơi, L nói cho X, T biết là L có ma túy “nước vui” bán với giá 2.500.000 đồng/túi, nếu ai có nhu cầu mua thì giới thiệu cho L.

Ngày 19/9/2023, Bùi Văn D1 (sinh năm 1986, trú tại: Thôn I, xã H, thành phố M) liên lạc qua ứng dụng Zalo với X hỏi mua ma túy. X nảy sinh ý định mua ma túy của L bán lại cho D1 kiếm lời nên thống nhất với D1 giá 01 túi ma túy “nước vui” là 3.000.000 đồng. Sau đó, X đã liên lạc và bảo L mang 01 túi ma túy đến nhà bán cho X với giá 2.500.000 đồng, nhưng xin trả tiền sau. Mua được ma túy, X liên lạc bảo D1 đến nhà của X và giao túi ma túy cho D1. D1 đã chuyển khoản 3.000.000 đồng tiền mua ma túy vào tài khoản số [...] của X mở tại Ngân hàng V1. Ngày 20/9/2023, X chuyển khoản 1.000.000 đồng vào số tài khoản số 0002545096 của L mở tại Ngân hàng Thương Mại cổ phần T3, còn lại 1.500.000 đồng X đưa trực tiếp cho L và được L cho lại 300.000 đồng.

Tiếp đến, khoảng 09 giờ 00 ngày 06/10/2023, D1 tiếp tục liên lạc với X hỏi 02 túi ma túy “nước vui”. X thống nhất với D1 giá 01 túi ma túy “nước vui” là 3.000.000 đồng. Sau đó, X nói lại với Nguyễn Trọng T để T gọi điện thoại cho L đặt mua 02 túi ma túy với giá 5.000.000 đồng về bán cho D1, đồng thời bảo L mang ma túy xuống nhà cho T. Một lúc sau, L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 14K1 – 267.28, cầm 02 túi ma túy được giấu trong vỏ bao thuốc lá đến giao cho T, T cất giấu vỏ bao thuốc lá đựng ma túy vào trong kệ tủ gần cầu thang theo lời dặn của X, rồi cùng L đi ăn giỗ. Đến khoảng 12 giờ 40 cùng ngày, X về lấy 02 túi ma túy trong vỏ bao thuốc lá mà T cất giấu, cho vào túi quần rồi mượn chiếc xe mô tô biển kiểm soát 14K1-144.10 của bà Huỳnh Thanh H1 (ở cùng phố L) để đi bán ma túy cho D1. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, X điều khiển xe mô tô đi đến đoạn ngõ A, đường Đ, thuộc Thôn I, xã H, thành phố M, thì bị Tổ công tác của Công an thành phố M kiểm tra, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của X: trong túi quần phía sau bên trái có 02 túi nilon kích thước (5,5x7)cm, hai mặt in hình vương miện, lô gô in chữ màu đồng AUTOMOBILI LAMBORGHINI và hình con bò tót, bên trong có chứa chất bột (kí hiệu M1, M2); 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha ACRUZO biển kiểm soát 14K1-144.10 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A gắn sim số 0911765075.

Cùng ngày, biết hành vi phạm tội đã bị phát hiện nên Nguyễn Trọng T đầu thú tại Công an thành phố M và giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu China Mobile M760 bên trong gắn sim số 0385.758.321.

Tiến hành khám xét khẩm cấp chỗ ở của Bùi Thị X và Nguyễn Trọng T thu giữ: 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long kích thước (8x6x1,5)cm, phần giữa hai ngăn trong bao bị lún xuống.

Căn cứ tài liệu điều tra, cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Thanh L. Thu giữ của L 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 14K1 – 267.28 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5s gắn sim số 0358.800.666.

Tại các bản Kết luận giám định số 1481/KLGĐ ngày 11/10/2023, của Phòng K Công an tỉnh Q và số 7537/KLGĐ ngày 19/10/2023, của V2 Bộ C, kết luận:

- Mẫu vật (kí hiệu M1, M2) gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, MDMA và Ketamine.

- Khối lượng M1: 2,876 gam (Hàm lượng Methamphetamine: 0,14%; MDMA: 0,76%; Ketamine: 0,15%); M2: 2,956 gam (Hàm lượng Methamphetamine: 0,05%; MDMA: 0,96%; Ketamine: 0,19%). Khối lượng từng chất ma túy trong M1 (4,0 mg Methamphetamine; 21,8 mg MDMA; 4,3 gam Ketamine), M2 (1,4 mg Methamphetamine; 28,3 mg MDMA; 5,6 mg Ketamine).

Bản Cáo trạng số 334/CT-VKSMC ngày 24/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo Trần Thanh L và Bùi Thị X về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Trọng T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Bùi Thị X, Nguyễn Trọng T và Trần Thanh L khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Ngoài ra Trần Thanh L khai: nguồn gốc ma túy để bán cho X và T là do 01 người bạn Trung Quốc tên A X1 (không rõ lai lịch, địa chỉ) cho L từ đầu năm 2023, tại khu vực đền Xã T, thành phố M. Các bị cáo xác định điều luật, khung hình phạt mà Cáo trạng truy tố hoàn toàn đúng với hành vi các bị cáo đã thực hiện.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Vũ Thị M (vợ của bị cáo L) có lời khai: chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 14K1 – 267.28 thuộc sở hữu của chị. Việc bị cáo L dùng xe máy thực hiện hành vi mang ma tuý đến nhà bị cáo X và T, chị không biết; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Huỳnh Thanh H1 (hàng xóm của bị cáo X) có lời khai: xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, ACRUZO biển kiểm soát 14K1-144.10 thuộc sở hữu của bà. Bị cáo Xuân mượn xe máy của bà, mang ma tuý đi bán, bà không biết. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị M và bà H1 chiếc xe trên, tại phiên toà chị M và bà H1 xác định đã nhận lại xe và không có yêu cầu, đề nghị gì. Người có quyên lợi nghĩa vụ liên quan là Nguyễn Tiến D có lời khai: anh là con của bị cáo Nguyễn Trọng T, trước đó anh dùng chứng minh nhân dân của mình để đăng ký sim điện thoại số 0385.758.xxx rồi cho bố sử dụng; anh không có bật cứ liên quan gì đến cuộc gọi từ số sim trên.

Người chứng kiến Vũ Đức T1 và Chu Văn T2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai có trong hồ sơ thể hiện: khoảng 13 giờ ngày 06/10/2023 các anh được lực lượng công an mời chứng kiến việc dừng xe để kiểm tra 01 người phụ nữ. Người đó khai tên Bùi Thị X, sinh năm 1988; trú tại: khu H, phường H, thành phố M. Khi tổ công tác yêu cầu thì X tự bỏ tài sản, đồ vật trong túi quần (phía sau bên trái) ra có 02 gói nhựa màu đen dán kín. X khai nhận đây là ma tuý dạng nước X mua với giá 2.500.000đ/01 gói của một người tên L (nha ở phường K, M) với mục đích bán lại để kiếm lời. Công an đã yêu cầu tất cả mọi người về trụ sở lập biên bản,

L2 khai của người làm chứng Bùi Văn D1 có trong hồ sơ xác định: Anh đã hai lần đặt mua ma tuý (nước vui) của Bùi Thị X với mục đích sử dụng khi nghe nhạc. Lần 1 vào ngày 19/9/2023 X bán cho anh 01 gói nước vui với giá 3.000.000đ. Anh đã chuyển khoản đủ 3 triệu đồng từ số tài khoản ngân hàng V3 mang tên Bùi Văn D1 sang số tài khoản 103868539151 mang tên Bùi Thị X. Lần thứ hai anh gọi đặt mua của X 02 gói ma tuý nước vui nhưng chờ mãi không thấy X đem lại. Anh và X thoả thuận khi X mang hàng đến, anh kiểm tra đúng chủng loại, chất lượng mới chuyển tiền.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Trần Thanh L từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2023; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Bùi Thị X từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2024; áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T từ 30 tháng đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2024.

- Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong theo đúng quy định, còn nguyên vẹn, không rách nát. Mặt trước phong bì ghi “Bộ C - V2 số 7537/C09 (TT2). Kính gửi: Cơ quan CSĐT Công an thành phố M, tỉnh Quảng Ninh (Mẫu vật hoàn lại kèm sau giám định) là vật Nhà nước cấm lưu hành; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long không còn giá trị sử dụng;

+ Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A màu đen gắn sim số 0911.765.075 thu của bị cáo X; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu China Mobile M760 màu vàng gắn sim số 0385.758.321 thu của bị cáo T. 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5s màu trắng gắn sim số 0358.800.666 thu của bị cáo L.

+ Truy thu số tiền: 800.000đ của bị cáo X, 2.200.000đ của bị cáo L có được do bán ma tuý;

+ Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 14K1 – 267.28 thuộc sở hữu của chị Vũ Thị M (vợ của L) và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, ACRUZO biển kiểm soát 14K1-144.10 thuộc sở hữu của bà Huỳnh Thanh H1. Chị M và bà H1 không biết việc X và L sử dụng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị M và bà H1 chiếc xe trên, do vậy không đề cập.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Các bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội mà kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa. Nói lời sau cùng, các bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người chứng kiến và người làm chứng, thấy rằng những người này đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, nhưng vắng mặt tại phiên tòa; xét thấy quá trình điều tra đã có lời khai nên việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng trên.

[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nhau, phù hợp với nội dung đã khai nhận tại cơ quan điều tra cùng với các tài liệu chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ để kết luận các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: Ngày 19/9/2023, tại khu T, phường H, thành phố M, Trần Thanh L có hành vi bán cho Bùi Thị X 01 túi ma túy loại: Methamphetamine, MDMA và Ketamine, với giá 2.500.000 đồng. Sau khi mua, X đem bán túi ma túy trên cho Bùi Văn D1 với giá 3.000.000 đồng.

Ngày 06/10/2023, tại khu T, phường H, thành phố M, Trần Thanh L tiếp tục bán cho Nguyễn Trọng T 02 túi ma túy chứa 50,1mg MDMA; 5,4mg Methamphetamine và 9,9mg Ketamine, với giá 5.000.000 đồng. Sau khi mua, T đưa lại 02 túi ma túy trên cho Bùi Thị X đem bán cho Bùi Văn D1 để kiếm lời, thì bị phát hiện bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Trần Thanh L và Bùi Thị X đã phạm vào tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Trọng T phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái đã truy tố các bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, nó không chỉ hủy hoại sức khỏe của người sử dụng mà nó còn là nguyên nhân gây ra nhiều tội phạm khác, làm mất trật tự trị an trong xã hội, do đó Nhà nước đã độc quyền quản lý các chất ma túy với những quy định rất nghiêm ngặt, mọi hành vi trái phép liên quan đến ma túy đều bị pháp luật trừng trị. Mặc dù nhận thức rõ tác hại của việc mua bán, sử dụng ma túy, nhưng vì lối sống buông thả và nhu cầu cá nhân nên các bị cáo thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội: mua bán trái phép chất ma túy để kiếm lợi. Vì vậy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

[3] Xét tính chất, vai trò của các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: bị cáo L hai lần mua ma tuý cho bị cáo X; bị cáo phạm tội độc lập phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của cá nhân mình. Bị cáo T và bị cáo X đồng phạm với nhau trong việc bán ma tuý vào ngày 06/10/2023. Trong đó bị cáo X giữ vai trò đầu còn bị cáo T là người giúp sức. Ngoài ra bị cáo X còn giữ vai trò độc lập đối với hành vi bán ma tuý cho D1 vào ngày 19/9/2023.

[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: không có; bị cáo Trần Thanh L và Nguyễn Trọng T có nhân thân xấu đã từng bị xét xử về tội tàng trữ, mua bán ma tuý nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội. Hội đồng xét xử sẽ xem xét trước khi quyết dịnh hình phạt đối với các bị cáo.

- Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra tại phiên tòa, các bị cáo Trần Thanh L, Bùi Thị Xguyễn Trọng Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Thanh L bố đẻ là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân huy chương; bị cáo Nguyễn Trọng Thi phạm tội đã đầu thú nên hai bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: xét thấy các bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Số ma tuý được hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long; 03 sim điện thoại số: 0911.765.xxx; 0385.758.321 và 0358.800.666 không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A màu đen thu của bị cáo X; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu China Mobile M760 màu vàng thu của bị cáo T. 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5s màu trắng thu của bị cáo Lphương tiện các bị cáo dùng liên lạc mua bán ma tuý, nên cần tịch thu phát mại, nộp ngân sách Nhà nước;

- Số tiền: 800.000đ của bị cáo X, 2.200.000đ của bị cáo Lđược từ việc bán ma tuý nên cần buộc các bị cáo nộp lại sung ngân sách nhà nước;

- Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 14K1 – 267.28 thuộc sở hữu của chị Vũ Thị M của L) và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, ACRUZO biển kiểm soát 14K1-144.10 thuộc sở hữu của bà Huỳnh Thanh H1. Chị M bà H1ng biết việc Xdụng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị M bà H1ếc xe trên, do vậy không đề cập.

[7] Liên quan trong vụ án có đối tượng người Trung Quốc tên A X1, quá trình điều tra không xác minh được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.

Đối với Bùi Văn D1nh vi mua ma túy của Xử dụng nhưng lượng ma tuý mua ngày 19/9/2023 đã sử dụng hết, còn giao dịch ngày 06/10/2023 chưa thực hiện được, nên Công an thành phố Mlập hồ sơ để ra quyết định xử phạt hành chính. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các bị cáo Trần Thanh L, Bùi Thị Xguyễn Trọng Tchịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9] Về quyền kháng cáo: các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Trần Thanh L (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 06/10/2023.

2/ Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Bùi Thị X bảy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 06/10/2023.

3/ Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T a mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 06/10/2023.

4/ Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong theo đúng quy định, còn nguyên vẹn, không rách nát. Mặt trước phong bì ghi “Bộ C- V2 7537/C09 (TT2). Kính gửi: Cơ quan CSĐT Công an thành phố M, tỉnh Quảng Ninh (Mẫu vật hoàn lại kèm sau giám định) là vật Nhà nước cấm lưu hành; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long; 03 sim điện thoại số: 0911.765.xxx; 0385.758.321 và 0358.800.666 không còn giá trị sử dụng;

+ Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A màu đen thu của bị cáo X; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu China Mobile M760 màu vàng thu của bị cáo T; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5s màu trắng thu của bị cáo L.

+ Truy thu của bị cáo Trần Thanh L tiền: 2.200.000đ; truy thu của bị cáo Bùi Thị X tiền 800.000đ nộp nghân sách Nhà nước;

Toàn bộ số vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 80/2024/THA ngày 24/4/2024.

5/ Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016, quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Trần Thanh L, Bùi Thị X, Nguyễn Trọng T ị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6/ Về quyền kháng cáo: áp dụng khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1, 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: các bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Quảng Ninh;

- VKSND tỉnh Quảng Ninh;

- VKSND thành phố Móng Cái;

- HSNV CA thành phố Móng Cái;

- CCTHADS thành phố Móng Cái;

- CQTHAHS, CQĐT CA thành phố Móng Cái;

- Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh.

- Các bị cáo; người có qlnvlq;

- THA, Lưu VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Hương Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự

  • Số bản án: 40/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo mua bán ma túy loại Mathamphetamine, MDMA và Ketamine thì bị phát hiện và bắt quả tang.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger