|
TAND HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2024/HS-ST
Ngày 22 - 5 – 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm tại điểm cầu trung tâm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Minh Tuấn
Các hội thẩm nhân dân: Bà Chẻo Thị Hà, bà Nguyễn Thị Thu
Thư ký phiên toà: Ông Hờ A Thái – Thư ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ tham gia phiên toà tại điểm cầu trung tâm: Bà Lê Ngọc Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở TAND huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu (điểm cầu trung tâm), Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ xét xử sơ thẩm trực tuyến, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2024/HSST ngày 02 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HS ngày 09/5/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Tẩn A P – Sinh năm 1984 tại tỉnh Lai Châu; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản T, xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Dao; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Tẩn U (Đã chết); Con bà: Lý Mý P1, sinh năm 1949. Gia đình bị cáo có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Năm 2002, Tẩn A P2 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính Đưa vào trường G, thời hạn 02 năm.
Năm 2010 và 2013, Tẩn A bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính Đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, thời hạn 02 năm.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 02/2019/HSST, ngày 28/01/2019, của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tuyên Tẩn A P2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, Điều 173 BLHS, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt 10 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/11/2018.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 13/2020/HSST, ngày 10/6/2020, của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tuyên Tẩn A P2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, Điều 173 BLHS, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/9/2019. Ngày 21/4/2021, Tẩn A P2 chấp hành xong hình phạt tù và trở về địa phương. Tính đến ngày thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nêu trên, bị cáo đã được đương nhiên xoá án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện S, tỉnh Lai Châu đến nay. Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện S
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Mạnh H – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L - Có mặt tại điểm cầu thành phần Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L.
Người bị hại: Ông Lò Ngọc Q - Sinh năm 1983 – Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Địa chỉ: Khu phố B thị trấn S, huyện S, tỉnh Lai Châu.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Xuân H1 - Sinh năm 1955 – Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Địa chỉ: Khu phố C thị trấn S, huyện S, tỉnh Lai Châu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 18 giờ ngày 23/10/2023, bị cáo Tẩn A P2 một mình mang theo một túi vải (loại túi đeo của người dân tộc Dao) đi bộ từ nhà xuống thị trấn S với mục đích tìm tài sản của người dân để trộm cắp. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, P2 đi bộ ra khu phố B, thị trấn S thì phát hiện nhà anh Lò Ngọc Q, sinh năm 1983, trú tại khu phố B, thị trấn S, huyện S có chuồng chăn nuôi gà, xây bằng gạch ba banh, lợp mái tôn. Phù đi vòng qua khu dân cư đi ra phía sau chuồng gà nhà anh Q, ngồi ở bờ ruộng để quan sát thì nhìn thấy vách tường chuồng gà phía sau có để các ô thoáng giữa các viên gạch, cao ngang tầm cổ. Đến khoảng hơn 21 giờ cùng ngày, thấy nhà người dân xung quanh đã tắt điện, P2 đi đến phía sau chuồng gà, dùng tay cạy phá các viên gạch xen kẽ ô thoáng để chui vào trong. P2 dùng tay bắt được 03 con gà mái (có trọng lượng 6,8kg) cho vào túi vải, rồi theo đường vào trước đó chui ra ngoài. Phù mang theo túi vải đựng 03 con gà vừa trộm cắp được đi lên bản Sìn H, thị trấn S để bán. Khi đi đến đầu bản Sìn Hồ Dao, P2 gặp người đi đường, do lo sợ bị phát hiện, P2 đã vứt túi vải bên trong có 03 con gà xuống đất, rồi bỏ chạy.
Sau đó, P2 đi về khu vực chợ cũ thị trấn S thì nhặt được 01 chiếc bao tải màu vàng cam. Lúc này khoảng rạng sáng ngày 24/10/2023, P2 cầm chiếc bao, quay lại chuồng gà nhà anh Lò Văn Q1, trèo vào theo lối tường phía sau chuồng gà đã cạy phá trước đó và bắt trộm được 05 con gà mái (có trọng lượng 11,2kg) và 02 con ngan (có trọng lượng 5,1kg) cho vào bao tải rồi mang ra khu vực sân vận động huyện S. Đến khoảng 05 giờ 30 phút ngày 24/10/2023, P2 vác theo bao tải đựng số ngan, gà trên đi vào khu phố C, thị trấn S thì gặp ông Nguyễn Xuân H2, sinh năm 1955 đang đi đổ rác trước cửa nhà. Phù đã bán số ngan, gà này cho ông H2 với giá 2.000.000 đồng rồi tiêu xài hết số tiền trên.
Ngày 24/10/2023, anh Chẻo Tiến L, sinh năm 1998, trú tại bản Sìn H, thị trấn S (người phát hiện Phù ở bản S) đã mang túi vải chứa 03 con gà mà Phù vứt lại bên đường giao nộp cho Công an thị trấn S. Cùng ngày, ông Lò Ngọc Q có đơn trình báo đến Công an thị trấn S về sự việc mất trộm tài sản trên. Công an thị trấn S triệu tập P2 lên làm việc, P2 đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản nêu trên của mình: Lần thứ nhất, Tẩn A P2 trộm được 03 con gà có trọng lượng là 6,8kg, tương đương đương giá trị là 1.020.000 đồng. Lần thứ hai, P2 trộm cắp được 05 con gà mái (có trọng lượng 11,2kg), tương đương 1.680.000 đồng và 02 con ngan (có trọng lượng 5,1kg), tương đương 459.000 đồng. Tổng giá trị tài sản lần thứ hai Phù trộm cắp được là 2.139.000 đồng. Các lần bị can thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có tính liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian, do đó bị can phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng giá trị tài sản trộm cắp được là 3.159.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 24 ngày 30/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S, kết luận: 08 con gà mái ta có tổng khối lượng là 18kg có giá trị thực tế là 2.700.000 đồng; 02 con ngan có khối lượng 5,1kg, có giá trị thực tế là 459.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà Tẩn A trộm cắp được là 3.159.000 đồng.
Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ những vật chứng sau:
Vật chứng thu giữ: 08 con gà mái và 02 con ngan do ông Nguyễn Xuân H2 và anh Chẻo Tiến L giao nộp: quá trình xác minh xác định là tài sản hợp pháp của ông Lò Ngọc Q nên ngày 24/10/2023, đã tạm giao số vật chứng trên cho anh Q. Đến ngày 04/3/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại số vật chứng trên cho anh Lò Ngọc Q là đúng quy định của pháp luật.
Vật chứng còn lại: 01 bao tải màu vàng cam, đã qua sử dụng; 01 chiếc túi vải màu xanh đỏ, có nhiều hoa văn hoạ tiết.
Bản cáo trạng số 17/CT - VKSSH ngày 02/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ đã Truy tố bị cáo Tẩn A P2 ra trước Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các kết luận giám định và bản cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Tẩn A P2 từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án: 01 bao tải màu vàng cam, đã qua sử dụng; 01 chiếc túi vải màu xanh đỏ, có nhiều hoa văn hoạ tiết.
Người bào chữa cho bị cáo: Đối với mức đề xuất hình phạt cho bị cáo của đại diện Viện kiểm sát là nghiêm khắc, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo dưới mức đề xuất của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa.
Đại diện viện kiểm sát tranh luận đối với quan điểm của Người bào chữa và bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu bị cáo đã từng hai lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Bị cáo đã hai lần bị xử phạt hình phạt tù tại bản án năm 2019 và năm 2020 về cùng tội Trộm cắp tài sản, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội nên cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị hại ông Lò Ngọc Q, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Xuân H2 vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và đều không có đề nghị gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.
Người bào chữa và bị cáo không có tranh luận gì khác với đại diện Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng bị cáo Tẩn A P2 rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện S, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để khẳng định:
Lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của gia đình ông Lò Ngọc Q, trú tại khu phố B, thị trấn S, huyện S, trong khoảng thời gian từ hơn 21 giờ ngày 23/10/2023 đến rạng sáng ngày 24/10/2023, Tẩn A P2 đã đột nhập vào chuồng gà nhà ông Q và trộm cắp tổng số 08 con gà mái ta có tổng khối lượng là 18kg; 02 con ngan có khối lượng 5,1kg, có tổng giá trị là 3.159.000 đồng, sau đó đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Hành vi phạm tội của Tẩn A P2 là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà bị can đã thực hiện. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Đối với các lần phạm tội trước bị cáo đã được xóa án tích, tuy nhiên đối với hành vi phạm tội lần này bị cáo có nhân thân xấu. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, bên cạnh đó bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, xét nhân thân và các tình tiết Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, răn đe bị cáo, giúp bị cáo cải tạo, phấn đấu trở thành công dân tốt, sống tôn trọng quy định của pháp luật và có ích cho gia đình, xã hội. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo 01 năm 08 tháng tù là có căn cứ nên cần được chấp nhận. Xét đề nghị của người bào chữa, bị cáo về giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là không tương xứng với mức độ hành vi và nhân thân của bị cáo nên không chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo làm nghề tự do công việc và thu nhập không ổn định, gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án: 01 bao tải màu vàng cam, đã qua sử dụng; 01 chiếc túi vải màu xanh đỏ, có nhiều hoa văn hoạ tiết.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị hại Lò Ngọc Q và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Xuân H2 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về các vấn đề liên quan: Đối với ông Nguyễn Xuân H2 là người không hứa hẹn trước và đã mua số gà, ngan do Tẩn A P2 trộm cắp mà có. Quá trình mua bán, ông Nguyễn Xuân H2 không biết là tài sản do P2 trộm cắp. Vì vậy, ông H2 không phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định tại Điều 323 Bộ luật hình sự.
Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47, Điều 38 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án đối với bị cáo:
Tuyên bố bị cáo Tẩn A P2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Tẩn A P2: 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2024. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 bao tải màu vàng cam, đã qua sử dụng; 01 chiếc túi vải màu xanh đỏ, có nhiều hoa văn hoạ tiết. (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 10 giờ 00 phút ngày 12/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ).
Về án phí: Miễn án phí hình sư sơ thẩm cho bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ toạ phiên toà Lê Minh Tuấn |
Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 40/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tẩn A Phù phạm tội trộm cắp tài sản
