|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2024/HS-ST
Ngày 21-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Quang Huy và ông Nguyễn Quang Nhã.
Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Tuyết Mai – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệp – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS ngày 10/7/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 10 /QÐST-HS ngày 25/7/2024 và Thông báo dời lịch xét xử số 01/TB-TA ngày 05/8/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh ngày 21 tháng 10 năm 2001, tại L, L, Quảng Bình; nơi đăng ký NKTT và chỗ ở: Thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1963 và bà Phan Thị H, sinh năm 1971; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giam” từ ngày 03/02/2024 đến 15/3/2024. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh từ ngày 15/3/2024 đến ngày 03/4/2024. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/4/2024 đến nay. Hiện bị can đang tại ngoại ở thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt;
Bị hại:
- + Anh Hoàng Văn M, sinh năm 1986; địa chỉ: T, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt;
- + Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn N, xã C, thị xã S, thành phố Hà Nội, vắng mặt;
- + Anh Đặng Văn P, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt;
- + Anh Đặng Quang H1, sinh năm 1994; địa chỉ: Đường A, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt;
- + Anh Hồ Xuân H2, sinh năm 1997; địa chỉ: Xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, vắng mặt;
- + Anh Nguyễn Đức C, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình, vắng mặt;
- + Anh Ngô Văn T2, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt;
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Chị Phan Thị H, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt;
- + Anh Đỗ Duy P1, sinh năm 2000; địa chỉ: Tổ D, Tổ dân phố D, thị trấn A, huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn L sinh năm 2001, trú tại thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Quảng Bình đã sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook tên “Ngọc H3” truy cập các trang, hội nhóm trên Facebook tìm người có nhu cầu mở thẻ tín dụng để tư vấn, sau đó hướng dẫn mở tài khoản K rồi tìm cách chiếm đoạt tiền trong tài khoản Kredivo.
Trong tháng 01 năm 2024, Nguyễn Văn L thực hiện hành vi truy cập bất hợp pháp tài khoản Kredivo của người khác, chiếm đoạt tiền tại ứng dụng Kredivo 07 (bảy) lần, cụ thể:
Vụ thứ 1: Ngày 03/01/2024, Nguyễn Văn L sử dụng tài khoản Facebook tên “Ngọc H3” nhắn tin với tài khoản Facebook tên “Hoang Mạnh” của anh Hoàng Văn M sinh năm 1986, trú tại Thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam để tư vấn về việc mở thẻ tín dụng. Dưới sự hướng dẫn của L, ngày 04/01/2024, anh M đã đăng ký thành công tài khoản Kredivo, số điện thoại đăng ký tài khoản là 0396163310. Sau đó, L tiếp tục tư vấn cho anh M về việc nâng hạn mức tài khoản nhằm mục đích lấy thông tin đăng nhập tài khoản Kredivo, mã OTP để chiếm đoạt tiền trong tài khoản Kredivo của anh M. Khi anh M cung cấp mã OTP, Văn L đã đăng nhập, truy cập bất hợp pháp vào tài khoản Kredivo của anh M, thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền trong tài khoản Kredivo của anh Hoàng Văn M với hình thức mua trả góp 01 (một) điện thoại di động OPPO A18, 4GB RAM, 128 GB ROM, màu xanh tại website http://fptshop.com.vn, kỳ hạn 03 tháng, tổng số tiền phải thanh toán là 4.123.400 đồng (trong đó tiền giao dịch mua điện thoại là 3.890.000 đồng, tiền phí nền tảng Kredivo là 233.400 đồng). Nguyễn Văn L sử dụng tên “L1”, số điện thoại 0585.447.xxx để nhận hàng tại F ở Tổ dân phố T, thị trấn K, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 04/01/2024.
Vụ thứ 2: Ngày 08/01/2024, Nguyễn Văn L sử dụng tài khoản Zalo tên “Lượng”, đăng ký bằng số điện thoại 0364.881.xxx nhắn tin với tài khoản Zalo tên “Hoài Thư”, đăng ký bằng số điện thoại 0359.042.xxx của chị Nguyễn Thị T1 sinh năm 1991, trú tại: Thôn N, xã C, thị xã S, thành phố Hà Nội để tư vấn về việc mở thẻ tín dụng. Dưới sự hướng dẫn của L, ngày 08/01/2024, chị T1 đã đăng ký thành công tài khoản Kredivo, số điện thoại đăng ký tài khoản là 0359042919. Sau đó, L tiếp tục tư vấn cho chị T1 về việc nâng hạn mức tài khoản nhằm mục đích lấy thông tin dăng nhập tài khoản K, mã OTP để chiếm đoạt tiền trong tài khoản Kredivo của chị Nguyễn Thị T1. Khi chị T1 cung cấp thông tin đăng nhập tài khoản Kredivo, mã OTP Nguyễn Văn L đã truy cập bất hợp pháp vào tài khoản Kredivo của chị T1, thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền trong tài khoản Kredivo của chị T1 với hình thức mua trả góp 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 15 dung lượng 128GB, màu hồng tại website http://fptshop.com.vn, kỳ hạn 12 tháng, tổng số tiền phải thanh toán là 29.573.903 đồng (trong đó tiền giao dịch mua điện thoại là 22.690.000 đồng, tiền phí nền tảng K là 1.361.400 đồng, tiền lãi 5.522.503 đồng). Nguyễn Văn L sử dụng tên “linh”, số điện thoại 0585.447.xxx để nhận hàng tại F ở Tổ dân phố T, thị trấn K, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 08/01/2024.
Vụ thứ 3: Ngày 08/01/2024, Nguyễn Văn L sử dụng tài khoản Facebook tên “Ngọc H3” nhắn tin với tài khoản Facebook tên “Đặng Văn P” của anh Đặng Văn P sinh năm 1998, trú tại: Thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi để tư vấn về việc mở thẻ tín dụng. Dưới sự hướng dẫn của L, anh Đặng Văn P đã đăng ký thành công tài khoản Kredivo, số điện thoại đăng ký tài khoản là 0766653698. Sau đó, L tiếp tục tư vấn cho anh Đặng Văn P về việc nâng hạn mức tài khoản nhằm mục đích lấy thông tin đăng nhập tài khoản Kredivo, mã OTP để chiếm đoạt tiền trong tài khoản Kredivo của anh Đặng Văn P. Khi anh Đặng Văn P cung cấp thông tin đăng nhập và mã OTP tài khoản Kredivo, L truy cập bất hợp pháp vào tài khoản Kredivo của anh P, thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền trong tài khoản Kredivo của anh P với hình thức mua trả góp 01 (một) điện thoại di động OPPO A18, 4GB RAM, 128 GB ROM, màu đen tại website http://fptshop.com.vn, kỳ hạn 03 tháng, tổng số tiền phải thanh toán là 4.123.400 đồng (trong đó tiền giao dịch mua điện thoại là 3.890.000 đồng, tiền phí nền tảng Kredivo là 233.400 đồng). Nguyễn Văn L sử dụng tên “linh”, số điện thoại 0585.447.xxx để nhận hàng tại F ở Tổ dân phố T, thị trấn K, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 08/01/2024.
Vụ thứ 4: Ngày 12/01/2024, Nguyễn Văn L sử dụng tài khoản Facebook tên “Ngọc H3” nhắn tin với tài khoản Facebook tên “Đặng Quang H1” của anh Đặng Quang H1 sinh năm 1994, trú tại: Đường A, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng để tư vấn về việc mở thẻ tín dụng. Dưới sự hướng dẫn của L, anh Đặng Quang H1 đã đăng ký thành công tài khoản Kredivo, số điện thoại đăng ký tài khoản là 0868814488. Sau đó, L tiếp tục tư vấn cho anh Đặng Quang H1 về việc nâng hạn mức tài khoản nhằm mục đích lấy thông tin đăng nhập tài khoản Kredivo, mã OTP để chiếm đoạt tiền khoản Kredivo của anh Đặng Quang H1. Khi anh Đặng Quang H1 cung cấp thông tin đăng nhập tài khoản Kredivo và mã OTP, L đã truy cập bất hợp pháp vào tài khoản Kredivo của anh H1, thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền trong tài khoản Kredivo của anh H1 với hình thức mua trả góp 01 (một) củ sạc Apple 20W và 02 (hai) bộ 3 nồi inox đáy từ Goldsun tại website http://fptshop.com.vn, kỳ hạn 01 tháng, tổng số tiền phải thanh toán là 1.320.070 đồng (trong đó tiền giao dịch mua điện thoại là 1.307.000 đồng, tiền phí nền tảng Kredivo là 13.070 đồng). Nguyễn Văn L sử dụng tên “linh”, số điện thoại 0587.332.xxx để nhận hàng tại F. Cùng ngày, Nguyễn Văn L cùng với mẹ là bà Phan Thị H, sinh năm 1971, trú tại thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Quảng Bình đến nhận hàng tại F ở Tổ dân phố T, thị trấn K, huyện L, tỉnh Quảng Bình.
Vụ thứ 5: Ngày 12/01/2024, Nguyễn Văn L sử dụng tài khoản Facebook tên “Ngọc H3” nhắn tin với tài khoản Facebook tên “H1 gấu” của anh Hồ Xuân H2 sinh năm: 1997, trú tại: Xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An để tư vấn về việc mở thẻ tín dụng. Dưới sự hướng dẫn của L, anh Hồ Xuân H2 đã đăng ký thành công tài khoản Kredivo, số điện thoại đăng ký tài khoản là 0338848643. Sau đó, L tiếp tục tư vấn cho anh H2 về việc nâng hạn mức tài khoản nhằm mục đích lấy thông tin đăng nhập tài khoản Kredivo, mã OTP để chiếm đoạt tiền trong tài khoản Kredivo của anh H2. Khi anh H2 cung cấp thông tin đăng nhập tài khoản Kredivo và mã OTP, L truy cập bất hợp pháp vào tài khoản Kredivo của anh H2, thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền trong tài khoản Kredivo của anh H2 với hình thức mua trả góp 01 (một) điện thoại di động Honor X8a 8GB RAM, 128 GB ROM, màu xanh ngọc tại website http://fptshop.com.vn, kỳ hạn 03 tháng, tổng số tiền phải thanh toán là 4.123.400 đồng (trong đó tiền giao dịch mua điện thoại là 3.890.000 đồng, tiền phí nền tảng Kredivo là 233.400 đồng). Nguyễn Văn L sử dụng tên “nam”, số điện thoại 0585.447.xxx để nhận hàng tại F ở Tổ dân phố T, thị trấn K, huyện L, tỉnh Quảng Bình.
Vụ thứ 6: Ngày 29/01/2024, Nguyễn Văn L sử dụng tài khoản Facebook tên “Ngọc H3” nhắn tin với tài khoản Facebook tên “Chinh Đức N” của anh Nguyễn Đức C sinh năm: 1989, trú tại: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình để tư vấn về việc mở thẻ tín dụng. Dưới sự hướng dẫn của L, anh Nguyễn Đức C đã đăng ký thành công tài khoản Kredivo, số điện thoại đăng ký tài khoản là 0367571547. Sau đó, Nguyễn Văn L tiếp tục tư vấn cho anh Nguyễn Đức C về việc nâng hạn mức tài khoản nhằm mục đích lấy thông tin đăng nhập tài khoản Kredivo, mã OTP để chiếm đoạt tiền trong tài khoản Kredivo của anh Nguyễn Đức C. Khi anh C cung cấp thông tin đăng nhập tài khoản Kredivo và mã OTP, L truy cập bất hợp pháp vào tài khoản Kredivo của anh C, thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền trong tài khoản Kredivo của anh C với hình thức mua trả góp 01 (một) điện thoại di động OPPO A18, 4GB RAM, 128 GB ROM tại website http://fptshop.com.vn, kỳ hạn 03 tháng, tổng số tiền phải thanh toán là 4.123.400 đồng (trong đó tiền giao dịch mua điện thoại là 3.890.000 đồng, tiền phí nền tảng Kredivo là 233.400 đồng). Nguyễn Văn L sử dụng tên “hieu”, số điện thoại 0585.447.xxx để nhận hàng tại F ở Tổ dân phố T, thị trấn K, huyện L, tỉnh Quảng Bình.
Vụ thứ 7: Ngày 27/01/2024, Nguyễn Văn L sử dụng tài khoản Facebook tên “Ngọc H3” nhắn tin với tài khoản Facebook tên “Ngô T2” của anh Ngô Văn T2 sinh năm 1990, trú tại Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Quảng Bình để tư vấn về việc mở thẻ tín dụng. Dưới sự hướng dẫn của L, ngày 28/01/2024, anh Ngô Văn T2 đã đăng ký thành công tài khoản Kredivo, số điện thoại đăng ký tài khoản là 0979643382. Sau đó, L tiếp tục tư vấn cho anh T2 về việc nâng hạn mức tài khoản nhằm mục đích lấy thông tin đăng nhập tài khoản Kredivo, mã OTP để chiếm đoạt tiền trong tài khoản Kredivo của anh Ngô Văn T2. Đến ngày 30/01/2024, anh Ngô Văn T2 đồng ý nâng hạn mức tín dụng tài khoản Kredivo và cung cấp thông tin đăng nhập của tài khoản Kredivo, mã OTP cho Nguyễn Văn L. Sau khi nhận được thông tin đăng nhập tài khoản Kredivo và mã OTP, L truy cập bất hợp pháp vào tài khoản Kredivo của anh T2, thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền trong tài khoản Kredivo bằng cách mua trả góp 01 (một) điện thoại di động POCO M6 Pro, màu đen, 8GB RAM, 256 GB ROM tại website http://fptshop.com.vn, kỳ hạn 03 tháng, tổng số tiền phải thanh toán là 6.243.400 đồng (trong đó tiền giao dịch mua điện thoại là 5.890.000 đồng, tiền phí nền tảng Kredivo là 353.400 đồng). Nguyễn Văn L sử dụng tên “nam”, số điện thoại 0585.415.xxx để nhận hàng tại F ở Tổ dân phố T, thị trấn K, huyện L, tỉnh Quảng Bình để nhận hàng
Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã thu giữ các tài liệu liên quan đến vụ án gồm:
- 01 (một) hộp đựng điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, loại máy PoCo M6 Pro 8GB RAM, 256GB ROM, màu đen, số IMEI1: 867584065571304, số IMEI2: 867584065571312, còn nguyên niêm phong của nhà sản xuất; 01 (một) hộp đựng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại máy A18 4GB/128GB, màu đen, số IMEI1: 863000061395295, số IMEI2: 863000061395287, còn nguyên niêm phong của nhà sản xuất; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại máy Iphone 15, dung lượng 128GB, màu hồng, số IMEI: 350571688828694, số IMEI2: 350571689656565, máy đã qua sử dụng; 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Acer, loại máy Nitro AN515-55, màu đen, máy đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme, loại máy C11, màu xám, dung lượng 32GB, số IMEI1: 869150055420916, số IMEI2: 869150055420908,có gắn thẻ sim số: 0584276352, máy đã qua sử dụng; 02 (hai) bộ mỗi bộ gồm 03 (ba) nồi inox đáy từ G, chưa qua sử dụng; 01 (một) củ sạc Apple 20W, đã qua sử dụng; 01 (một) vỏ hộp đựng điện thoại di động nhãn hiệu Apple, kích thước 16,5 x 9cm; 01 (một) dây cáp sạc điện thoại, màu trắng, đã qua sử dụng; 03 tờ biên nhận thanh toán của cửa hàng F.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn L đã bồi thường thiệt hại cho bị hại Nguyễn Thị T1 số tiền 30.000.000 đồng, bồi thường thiệt hại cho bị hại Ngô Văn T2 số tiền 6.243.400 đồng. Chị T1 và anh T2 đã nhận đủ số tiền bồi thường và làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với các bị hại Hoàng Văn M, Đặng Văn P, Nguyễn Đức C, Hồ Xuân H2 bị cáo chưa bồi thường.
Riêng bị hại Đặng Quang H1 không yêu cầu bị can Nguyễn Văn L bồi thường.
Trong quá trình điều tra, Nguyễn Văn L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tiến hành bồi thường thiệt hại cho bị hại Nguyễn Thị T1 và Ngô Văn T2 và được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Tình tiết liên quan:
Bà Phan Thị H là người không biết việc Nguyễn Văn L sử dụng điện thoại Realme C11 của bà H để thực hiện hành vi phạm tội và không biết các tài sản bà cùng L nhận tại FPT là do Nguyễn Văn L phạm tội mà có.
Anh Đỗ Duy P1 là người mua tài sản của Nguyễn Văn L nhưng không biết nguồn gốc tài sản là do Nguyễn Văn L phạm tội mà có nên không phạm tội.
Bản cáo trạng số: 24/CT-VKSNDLT ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 290 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 290; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 30 tháng đến 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 BLHS, Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự, đề nghị tuyên buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải bồi thường cho các bị hại Nguyễn Văn M1 số tiền 3.990.000 đồng, bị hại Đặng Văn P số tiền 3.890.000 đồng, bị hại Nguyễn Đức C số tiền 4.123.400 đồng, bị hại Hồ Xuân H2 số tiền 4.123.400 đồng.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Acer, loại máy Nitro AN515-55, màu đen, máy đã qua sử dụng cho Nguyễn Văn L.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại máy Iphone 15, dung lượng 128GB, màu hồng, số IMEI: 350571688828694, số IMEI2: 350571689656565, máy đã qua sử dụng; 01 (một) hộp đựng điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, loại máy PoCo M6 Pro 8GB RAM, 256GB ROM, màu đen, số IMEI1: 867584065571304, số IMEI2: 867584065571312, còn nguyên niêm phong của nhà sản xuất; 01 (một) hộp đựng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại máy A18 4GB/128GB, màu đen, số IMEI1: 863000061395295, số IMEI2: 863000061395287, còn nguyên niêm phong của nhà sản xuất; máy đã qua sử dụng; 02 (hai) bộ mỗi bộ gồm 03 (ba) nồi inox đáy từ G, chưa qua sử dụng; 01 (một) củ sạc Apple 20W, đã qua sử dụng; 01 (một) vỏ hộp đựng điện thoại di động nhãn hiệu Apple, kích thước 16,5 x 9cm; 01 (một) dây cáp sạc điện thoại, màu trắng, đã qua sử dụng. (BL: 13) là tài sản từ hành vi phạm tội mà có cần tịch thu xung vào ngân sách nhà nước.
Trả lại cho bà Phan Thị H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme, loại máy C11, màu xám, dung lượng 32GB, số IMEI1: 869150055420916, số IMEI2: 869150055420908
Tịch thu tiêu hủy sim số 0584276352 là tài sản của Nguyễn Văn L lắp vào điện thoại di động của bà H để thực hiện hành vi phạm tội.
Đối với 03 tờ biên nhận thanh toán của cửa hàng F thì cần tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Quảng Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Do có ý định sử dụng mạng máy tính để chiếm đoạt tiền trong tài khoản ngân hàng của người khác nên vào khoảng đầu năm 2024, bị cáo Nguyễn Văn L đã sử dụng mạng xã hội Facebook tên “Ngọc Huyền” truy cập vào các trang, hội nhóm trên Facebook tìm người có nhu cầu mở thẻ tín dụng để tư vấn, sau đó hướng dẫn mở tài khoản K rồi tìm cách chiếm đoạt tiền trong tài khoản Kredivo của các bị hại. Sau khi tư vấn về việc mở tài khoản, L hướng dẫn các bị hại về việc nâng hạn mức tài khoản nhằm mục đích lấy thông tin đăng nhập tài khoản Kredivo và mã OTP. Khi các bị hại cung cấp thông tin đăng nhập tài khoản và mã OTP, L truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của các bị hại, thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền trong tài khoản của bị hại với hình thức mua trả góp các thiết bị điện tử tại website http://fptshop.com.vn. Sau đó L đến nhận hàng tại cửa hàng F ở Tổ dân phố T, thị trấn K, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Bằng thủ đoạn như trên, Nguyễn Văn L đã thực hiện bảy lần phạm tội cụ thể:
- Lần thứ nhất: Lượng chiếm đoạt của anh Hoàng Văn M, sinh năm 1986, trú tại Thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam số tiền 4.123.400 đồng (Bốn triệu một trăm hai mươi ba nghìn bốn trăm nghìn đồng)
- Lần thứ hai: Lượng chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1991, trú tại: Thôn N, xã C, thị xã S, thành phố Hà Nội số tiền 29.573.903 đồng (Hai mươi chín triệu năm trăm bảy mươi ba nhìn chín trăm lẻ ba đồng)
- Lần thứ ba: Lượng chiếm đoạt của anh Đặng Văn P sinh năm 1998, trú tại: Thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi số tiền 4.123.400 đồng (Bốn triệu một trăm hai mươi ba nghìn bốn trăm nghìn đồng)
- Lần thứ bốn: Lượng chiếm đoạt của anh Đặng Quang H1 sinh năm 1994, trú tại: Đường A, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng số tiền 1.320.070 đồng (Một triệu ba trăm hai mươi nghìn không trăm bảy mươi đồng)
- Lần thứ năm: Lượng chiếm đoạt của anh Hồ Xuân H2 sinh năm: 1997, trú tại: Xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An số tiền 4.123.400 đồng (Bốn triệu một trăm hai mươi ba nghìn bốn trăm nghìn đồng)
- Lần thứ sáu: Lượng chiếm đoạt của anh Nguyễn Đức C sinh năm: 1989, trú tại: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình số tiền 4.123.400 đồng (Bốn triệu một trăm hai mươi ba nghìn bốn trăm nghìn đồng)
- Lần thứ bảy: Lượng chiếm đoạt của anh Ngô Văn T2 sinh năm 1990, trú tại Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Quảng Bình số tiền 6.243.400 đồng (Sáu triệu hai trăm bốn mươi ba nghìn bốn trăm đồng)
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trong tháng 01 năm 2024, Nguyễn Văn L đã thực hiện hành vi truy cập bất hợp pháp tài khoản Kredivo của người khác 07 (bảy) lần, chiếm đoạt số tiền 53.630.973 đồng, cụ thể: Ngày 04/01/2024, Nguyễn Văn L truy cập bất hợp pháp vào tài khoản Kredivo của anh Hoàng Văn M, chiếm đoạt số tiền 4.123.400 đồng. Ngày 08/01/2024, Nguyễn Văn L truy cập bất hợp pháp vào tài khoản Kredivo của chị Nguyễn Thị T1, chiếm đoạt số tiền 29.573.503 đồng. Ngày 08/01/2024, Nguyễn Văn L truy cập bất hợp pháp vào tài khoản Kredivo của anh Đặng Văn P, chiếm đoạt số tiền 4.123.400 đồng. Ngày 12/01/2024, Nguyễn Văn L truy cập bất hợp pháp vào tài khoản Kredivo của anh Đặng Quang H1, chiếm đoạt số tiền 1.320.070 đồng. Ngày 12/01/2024, Nguyễn Văn L truy cập bất hợp pháp vào tài khoản Kredivo của anh Hồ Xuân H2, chiếm đoạt số tiền 4.123.400 đồng. Ngày 30/01/2024, Nguyễn Văn L truy cập bất hợp pháp vào tài khoản Kredivo của anh Nguyễn Đức C, chiếm đoạt số tiền 4.123.400 đồng. Ngày 30/01/2024, Nguyễn Văn L truy cập bất hợp pháp vào tài khoản Kredivo của anh Ngô Văn T2, chiếm đoạt số tiền 6.243.400 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” và “ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”. Vì vậy, viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thủy truy tố bị cáo Nguyễn Văn L tại điểm b, đ khoản 2 Điều 290 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất nguy hiểm, mức độ hậu quả của hành vi: Cùng với sự phát triển của công nghệ và truyền thông thì tội phạm về sử dụng công nghệ cao, sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác xảy ra ngày càng gia tăng và có tính chất phức tạp làm ảnh hưởng đến lợi ích công cộng và lợi ích quốc gia trong lĩnh vực thông tin và an toàn mạng. Bị cáo Nguyễn Văn L là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn có tiền sử dụng cho bản thân mà các bị cáo trực tiếp xâm hại đến tài sản thuộc quyền sở hữu của các bị hại. Hành vi của bị cáo bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an, gây ảnh hưởng xấu đến dư luận quần chúng nhân dân. Đối với bị cáo cần thiết phải cách ly ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự đối với bị cáo. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, nên chiếu cố chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng mức, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cũng như nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật..
[4] Về dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo Nguyễn Văn L đã bồi thường thiệt hại cho bị hại chị Nguyễn Thị T1 số tiền 30.000.000 đồng, bồi thường thiệt hại cho bị hại Ngô Văn T2 số tiền 6.243.400 đồng. Chị Nguyễn Thị T1 và anh Nguyễn Văn T3 đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập giải quyết.
Đối với các bị hại Hoàng Văn M, Đặng Văn P, Nguyễn Đức C, Hồ Xuân H2 và Đặng Quang H1 bị cáo chưa bồi thường. Do đó căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 của bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự, chấp nhận toàn bộ yêu cầu của các bị hại, buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn M1 số tiền 3.990.000 đồng, bồi thường cho anh Nguyễn Đức C số tiền 4.123.400 đồng, bồi thường cho anh Hồ Xuân H2 số tiền 4.123.400 đồng. Anh Đặng Văn P yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn L bồi thường theo quy định của pháp luật. Xét thấy anh P bị chiếm đoạt số tiền là 3.890.000 đồng, nên bị cáo Trần Văn L2 cần bồi thường cho anh P toàn bộ số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt được. Riêng anh Đặng Quang H1 không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn L bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện L đã tạm giữ một số vật chứng của vụ án, được chuyển theo hồ sơ vụ án. Số vật chứng này được xử lý như sau:
Đối với 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Acer, loại máy Nitro AN515-55, màu đen, máy đã qua sử dụng là tài sản của Nguyễn Văn L, không sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại máy Iphone 15, dung lượng 128GB, màu hồng, số IMEI: 350571688828694, số IMEI2: 350571689656565, máy đã qua sử dụng là tài sản do Nguyễn Văn L phạm tội vào ngày 08/01/2024 mà có, được kết nối Internet để thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước.
Đối với 01 (một) hộp đựng điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, loại máy PoCo M6 Pro 8GB RAM, 256GB ROM, màu đen, số IMEI1: 867584065571304, số IMEI2: 867584065571312, còn nguyên niêm phong của nhà sản xuất; 01 (một) hộp đựng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại máy A18 4GB/128GB, màu đen, số IMEI1: 863000061395295, số IMEI2: 863000061395287, còn nguyên niêm phong của nhà sản xuất; 02 (hai) bộ mỗi bộ gồm 03 (ba) nồi inox đáy từ G, chưa qua sử dụng; 01 (một) củ sạc Apple 20W, đã qua sử dụng; 01 (một) vỏ hộp đựng điện thoại di động nhãn hiệu Apple, kích thước 16,5 x 9cm; 01 (một) dây cáp sạc điện thoại, màu trắng, đã qua sử dụng. (BL: 13) là tài sản từ hành vi phạm tội mà có cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme, loại máy C11, màu xám, dung lượng 32GB, số IMEI1: 869150055420916, số IMEI2: 869150055420908,có gắn thẻ sim số: 0584276352, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bà Phan Thị H trình bày: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme, loại máy C11 là tài sản của bà, việc L sử dụng chiếc điện thoại trên để thực hiện hành vi phạm tội bà H không hề biết. Nay cơ quan điều tra đã thu giữ, bà H đề nghị cho bà được nhận lại chiếc điện thoại di động. Qua trình bày của bà H, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở để chấp nhận.
Đối với sim số 0584276352 là tài sản của Nguyễn Văn L lắp vào điện thoại di động của bà H để sử dụng, L đã dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 03 tờ biên nhận thanh toán của cửa hàng F thì cần tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án
[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Vấn đề khác: Bà Phan Thị H là người không biết việc Nguyễn Văn L sử dụng điện thoại Realme C11 của bà H để thực hiện hành vi phạm tội và không biết các tài sản bà cùng L nhận tại FPT là do Nguyễn Văn L phạm tội mà có nên không phải chịu trách trách nhiệm hình sự. Anh Đỗ Duy P1 là người mua tài sản của Nguyễn Văn L nhưng không biết nguồn gốc tài sản là do Nguyễn Văn L phạm tội mà có nên không phải chịu trách trách nhiệm hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b, điểm đ khoản 2 Điều 290; điểm b khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 48; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự của Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự; Áp dụng điểm a, b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
- Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn L 30 tháng tù được hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm kể từ ngày được tuyên án 21/8/2024.
Giao bị cáo cho UBND xã L, huyện L, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người phải thi hành án.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự.
-
Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn L bồi thường cho các bị hại sau: Anh Nguyễn Văn M1 số tiền 3.990.000 đồng. Anh Đặng Văn P số tiền 3.890.000 đồng. Anh Nguyễn Đức C số tiền 4.123.400 đồng. Anh Hồ Xuân H2 số tiền 4.123.400 đồng.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền người phải thi hành án phải bồi thường, nếu người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì người phải thi hành án phải chịu lãi đối với số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian châm thi hành án, theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự
-
Về vật chứng:
Tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại máy Iphone 15, dung lượng 128GB, màu hồng, số IMEI: 350571688828694, số IMEI2: 350571689656565, máy đã qua sử dụng; 01 (một) hộp đựng điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, loại máy PoCo M6 Pro 8GB RAM, 256GB ROM, màu đen, số IMEI1: 867584065571304, số IMEI2: 867584065571312, còn nguyên niêm phong của nhà sản xuất; 01 (một) hộp đựng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại máy A18 4GB/128GB, màu đen, số IMEI1: 863000061395295, số IMEI2: 863000061395287, còn nguyên niêm phong của nhà sản xuất; 02 (hai) bộ mỗi bộ gồm 03 (ba) nồi inox đáy từ G, chưa qua sử dụng; 01 (một) củ sạc Apple 20W, đã qua sử dụng; 01 (một) vỏ hộp đựng điện thoại di động nhãn hiệu Apple, kích thước 16,5 x 9cm; 01 (một) dây cáp sạc điện thoại, màu trắng, đã qua sử dụng;
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Acer, loại máy Nitro AN515-55, màu đen, máy đã qua sử dụng;
Trả lại cho bà Phan Thị H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme, loại máy C11, màu xám, dung lượng 32GB, số IMEI1: 869150055420916, số IMEI2: 869150055420908;
Tịch thu, tiêu hủy 01 sim số 0584276352;
Các vật chứng nêu trên đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lệ Thuỷ, có số lượng, đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/6/2024 giữa Công an huyện L và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình.
Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án 03 tờ biên nhận thanh toán của cửa hàng F.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 806.340 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21/8/2024); bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thanh Hải |
Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH về sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 40/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án hình sự sơ thẩm
