Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGỌC LẶC

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 21 - 6 - 2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Thịnh
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đức Hoàn
  • Bà Quách Thị Lê
  • Thư ký phiên toà: Bà Lê Mỹ Duyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Lanh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 56/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Vũ Thị O; sinh năm: 1995; HKTT: Thôn M, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q; sinh năm: 1996; HKTT: Thôn M, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên toà có mặt anh Q, vắng mặt chị O. Chị O đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 19/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Vũ Thị O trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn Q kết hôn tự nguyện, đã tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương từ tháng 11/2017, nhưng mãi đến ngày 02/4/2018 mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà thuận được khoảng 06 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Hai bên gia đình đã hoà giải nhưng không có kết quả. Từ đầu năm 2024 cho đến nay, tuy vợ chồng vẫn sống chung một nhà nhưng không ai quan tâm tới ai. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Q.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 30/9/2018 và cháu Nguyễn Ngọc M, sinh ngày 16/01/2020. Nếu ly hôn, chị O có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu D; giao cháu M cho anh Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay, chị đang làm lao động tự do, thu nhập bình quân hằng tháng khoảng 6.000.000₫ đến 9.000.000đ.

Về tài sản: Chị O không yêu cầu Toà án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, bị đơn là anh Nguyễn Văn Q trình bày: Về ngày kết hôn, nơi đăng ký kết hôn đúng như nguyên đơn trình bày. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà thuận không có phát sinh mâu thuẫn gì lớn. Ban đầu, vợ chồng chung sống với nhau tại Thôn M, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Từ tháng 05/2022, vợ chồng chuyển về sinh sống ở nhà bố mẹ đẻ chị O ở Thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Từ tháng 03/2024, anh không biết lý do chị O xin ly hôn anh. Từ đó đến nay, vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, cứ nói chuyện là xảy ra cãi vã. Hai bên gia đình đã hoà giải nhưng không có kết quả. Hiện hai vợ chồng vẫn sống chung, anh vẫn quan tâm chị O nhưng chị O lạnh nhạt, không quan tâm gì đến anh. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh muốn vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con cái, anh không đồng ý ly hôn. Nếu chị O cương quyết ly hôn, anh đồng ý ly hôn với điều kiện anh được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 30/9/2018 và cháu Nguyễn Ngọc M, sinh ngày 16/01/2020. Nếu ly hôn, anh Q có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu. Không yêu cầu chị O phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay, anh đang làm lao động tự do, thu nhập bình quân hằng tháng khoảng 8.000.000₫.

Về tài sản: Anh Q không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ý kiến của Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS); chị O, anh Q đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Về giao nhận, tống đạt văn bản tố tụng Toà án đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Vũ Thị O được ly hôn anh Nguyễn Văn Q. Giao cháu Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 30/9/2018 cho chị O trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Nguyễn Ngọc M, sinh ngày 16/01/2020 cho anh Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Về tố tụng:

Chị Vũ Thị O khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Văn Q, nơi cư trú tại Thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

Chị Vũ Thị O đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ quy định tại khoản 1 điều 227, khoản 1 điều 228 BLTTDS, Toà án xét xử vắng mặt chị O.

[2] Về hôn nhân: Chị Vũ Thị O và anh Nguyễn Văn Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 02/4/2018 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm. Chị O cương quyết muốn được ly hôn. Anh Q cũng thừa nhận: từ tháng 03/2024 đến nay, vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, cứ nói chuyện là xảy ra cãi vã. Nếu chị O cương quyết ly hôn, anh đồng ý ly hôn với điều kiện anh được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu. Điều đó chứng tỏ chị O, anh Q đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị O được ly hôn anh Q.

[3] Về con chung: Chị O và anh Q có 02 con chung. Chị O và anh Q đều có nguyện vọng muốn được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu D. Nguyện vọng của hai bên là hoàn toàn chính đáng. Xét thấy, cả chị O và anh Q đều có công việc, thu nhập để trực tiếp nuôi dưỡng các cháu. Ngoài ra, một người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu sẽ không đảm bảo điều kiện phát triển tốt nhất cho các cháu được. Giao cho mỗi người trực tiếp nuôi một cháu là phù hợp với quy định pháp luật và điều kiện thực tế. Để đảm bảo sự phát triển ổn định về mọi mặt cho các cháu: chấp nhận yêu cầu của chị O: giao cháu D cho chị O trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu M cho anh Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về tài sản: Chị O, anh Q không yêu cầu nên không xem xét.

[5] Về án phí: Chị O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 28; 35; 39; 147; 227; 228; 271; 273 BLTTDS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị O được ly hôn anh Nguyễn Văn Q.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 30/9/2018 cho chị O trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Nguyễn Ngọc M, sinh ngày 16/01/2020 cho anh Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị O, anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.

  1. Về án phí: Chị Vũ Thị O phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền chị đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, theo biên lai số 0004313 ngày 03/5/2024. Chị O đã nộp đủ tiền án phí.

Án xử công khai sơ thẩm. Anh Q có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị O có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện;
  • - UBND xã Ngọc Thiện, huyện
  • Tân Yên, tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Lưu HSVA; Văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 21/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 40/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Vũ Thị O xin ly hôn anh Nguyễn Văn Q, tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger