Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH PHỤ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2025/HS-ST

Ngày 08-4-2014

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức - Thẩm phán Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Thế Cần; Bà Phạm Thị Hương.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Vi- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Bị cáo: Vũ Văn T; Tên gọi khác: không; Giới tính: nam;
Sinh ngày 15/3/1974, tại xã An Ninh, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình;
Cư trú: thôn Phố Lầy, xã An Ninh, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Họ và tên cha: Vũ Văn C, đã chết; Họ và tên mẹ: Vũ Thị L, đã chết; Vợ: Đỗ Thị H, sinh năm 1981; Có 02 con, sinh năm 2002 và 2012; Tiền án, tiền sự: không;
Bị tạm giữ từ ngày 23/12/2024 đến ngày 25/12/2024 được hủy bỏ tạm giữ, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

2. Bị cáo: Vũ Thái H1; Tên gọi khác: không; Giới tính: nam;
Sinh ngày 20/7/1971, tại xã An Ninh, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình;
Cư trú: tổ dân phố Toàn Thắng, xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Họ và tên cha: Vũ Văn C, đã chết; Họ và tên mẹ: Vũ Thị L, đã chết; Vợ: Vũ Thị M, sinh năm 1973; Có 02 con, sinh năm 1995 và 2008; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Tháng 9/1992 nhập ngũ đến tháng 9/1994 xuất ngũ. Năm 1994, được Lữ đoàn 44 Bộ T3 tặng Giấy khen;
Bị tạm giữ từ ngày 23/12/2024 đến ngày 25/12/2024 được hủy bỏ tạm giữ, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã L, huyện G, thành phố Hà Nội.

3. Bị cáo: Vũ Quốc H2; Tên gọi khác: không; Giới tính: nam;
Sinh ngày 16/6/1985, tại xã An Ninh, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình;
Cư trú: thôn Vạn Phúc, xã An Ninh, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Họ và tên cha: Vũ Như H3, đã chết; Họ và tên mẹ: Vũ Thị L1, sinh năm 1963; Vợ: Vũ Thị D, sinh năm 1991; Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không;
Bị tạm giữ từ ngày 23/12/2024 đến ngày 25/12/2024 được hủy bỏ tạm giữ, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

4. Bị cáo: Nguyễn Văn N; Tên gọi khác: không; Giới tính: nam;
Sinh ngày 24/4/1975, tại xã An Ninh, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình;
Cư trú: thôn An Ninh, xã An Ninh, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Họ và tên cha: Nguyễn Văn T1, đã chết; Họ và tên mẹ: Đỗ Thị Q, đã chết; Vợ: Nguyễn Thị Ánh H4, sinh năm 1981; Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Năm 1995 nhập ngũ đến năm 1997 xuất ngũ;
Bị tạm giữ từ ngày 23/12/2024 đến ngày 25/12/2024 được hủy bỏ tạm giữ, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

5. Bị cáo: Vũ Văn M1; Tên gọi khác: không; Giới tính: nam;
Sinh ngày 01/01/1967, tại xã An Ninh, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình;
Cư trú: thôn Vạn Phúc, xã An Ninh, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 7/10; Nghề nghiệp: lao động tự do; Họ và tên cha: Vũ Văn C1, đã chết; Họ và tên mẹ: Lê Thị T2, đã chết; Vợ: Trình Thị Đ, sinh năm 1967; Có 02 con, sinh năm 1989 và 1991; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Năm 1985 nhập ngũ đến năm 1987 xuất ngũ;
Bị tạm giữ từ ngày 23/12/2024 đến ngày 25/12/2024 được hủy bỏ tạm giữ, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

Người làm chứng:

Bà Vũ Thị L1, sinh năm 1963; Nơi cư trú: thôn V, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

(Tại phiên tòa có mặt các bị cáo; vắng mặt người làm chứng).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 23 giờ ngày 22/12/2024, Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình phát hiện bắt quả tang tại nhà thờ họ Vũ V, ở thôn V, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, các bị cáo gồm: Vũ Văn T, Vũ Quốc H2, Vũ Văn M1, Vũ Thái H1 và Nguyễn Văn N thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền, hình thức đánh “liêng”. Thu giữ 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá, số tiền 8.070.000 đồng; quản lý trên người số tiền 1.430.000 đồng, trong đó: Vũ Thái H1 800.000 đồng, Vũ Quốc H2 630.000 đồng.

Quá trình điều tra các bị cáo khai: Do có quen hệ anh em, dòng họ, tối ngày 22/12/2024, T, H2, M1, H1, N đến nhà thờ họ Vũ V, ở thôn V, xã A, huyện Q, dự liên hoan khánh thành mộ cụ. Khoảng 20 giờ, đang ngồi chơi, bị cáo T nảy sinh ý định đánh bạc được thua bằng tiền nên rủ “Anh em mình làm tý liêng ăn tiền”. Tất cả đồng ý. T cầm bộ bài tú lơ khơ 52 lá ở gầm bàn nước rồi cùng H1, N, M1, H2 ngồi quây tròn dưới nền nhà thờ, theo chiều quay kim đồng hồ, thứ tự từ cửa vào đầu tiên là T, tiếp đến Năng, H1, H2, M1 bắt đầu thực hiện hành vi đánh bạc, được thua bằng tiền, hình thức đánh “liêng”. Cách chơi và số tiền cược thắng thua mỗi ván bạc như sau: Người chia trộn bài rồi lần lượt chia cho mỗi người chơi 03 lá bài, số bài còn lại úp xuống nền. Trước khi lên bài, mỗi người chơi cược 20.000 đồng vào “tẩy” gọi là tiền gà. Người chia bài là người đầu tiên được “tố” tức là được cược thêm vào “tẩy” số tiền nhất định nhưng không quá 100.000 đồng. Lần lượt ngược chiều kim đồng hồ đến những người chơi tiếp có thể theo, tố thêm hoặc úp bài. Trường hợp người trước đã tố thì người ngồi liền sau không được chuyển mà chỉ có thể theo, tố hoặc úp bài. Người theo phải đặt vào tẩy số tiền cược bằng số tiền của người tố ngồi gần nhất đã vào tẩy và có thể tố thêm số tiền nhất định. Người chơi kế tiếp muốn theo phải vào tẩy số tiền bằng tổng số tiền theo và tiền tố của người ngồi liền trước. Ai không theo thì bị thua số tiền đã cược. Trường hợp chỉ một người tố, những người còn lại không theo thì người tố thắng và được toàn bộ số tiền cược. Trường hợp không ai tố thêm thì hạ bài tính điểm để xác định người thắng. Cách tính như sau: các lá bài 10, J, Q, K tính là 0 điểm; các lá bài từ A đến 9 tương đương với số điểm từ 1 đến 9 điểm. Thứ tự tính điểm 1 điểm nhỏ hơn (<) 2 điểm < 3 điểm <...< 9 điểm <đồng hoa (ba lá bài có đầu là J, Q, K nhưng không phải liêng) <liêng (ba lá bài có thứ tự liên tục, liêng Q, K, A là to nhất, liêng A, 2, 3 là nhỏ nhất) < sáp (ba lá bài giống nhau, sáp A, A, A là to nhất, sáp 2, 2, 2 là nhỏ nhất). Người có số điểm bằng nhau thì căn cứ vào thứ tự chất rô, cơ, nhép, bích để tính thắng thua; lá bài A là to nhất, lá bài 2 là nhỏ nhất. Kết thúc mỗi ván bạc, người thắng được chia bài cho ván bạc tiếp theo. Các bị cáo đánh bạc đến 23 giờ bị tổ công tác của Công an huyện Q phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Quá trình điều tra, truy tố và xét xử xác định số tiền đánh bạc từng bị cáo như sau: T khai số tiền đánh bạc khoảng 4.000.000 đồng, khi bắt không có tiền trên người; H1 khai số tiền đánh bạc khoảng 4.000.000 đồng, khi bắt bị quản lý trên người 800.000 đồng; H2 khai số tiền đánh bạc 830.000 đồng, khi bắt bị quản lý trên người 630.000 đồng; N khai số tiền đánh bạc 450.000 đồng, khi bắt không có tiền trên người; M1 khai số tiền đánh bạc 380.000 đồng, khi bắt không có tiền trên người. Tổng số tiền các bị cáo đánh bạc là 9.500.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 27/CT-VKSQP ngày 28/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ đã truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trong giai đoạn điều tra, truy tố và đúng như nội dung mô tả trong bản Cáo trạng. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn, hối cải.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên tòa: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “Đánh bạc”; Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 35 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Vũ Văn T, Vũ Thái H1, Nguyễn Văn N, Vũ Văn M1 và Vũ Quốc H2; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Thái H1, Nguyễn Văn N và Vũ Văn M1.

- Đề nghị xử phạt bị cáo T từ 35.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng; Xử phạt bị cáo H1 từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng; xử phạt bị cáo H2 từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng; bị cáo N và M1 mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.

Về hình phạt bổ sung: Do hình phạt chính là phạt tiền, vì vậy đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng và án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu 9.500.000 đồng các bị cáo sử dụng đánh bạc để nộp ngân sách Nhà nước; Tịch thu tiêu hủy bộ bài tú lơ khơ 52 lá; Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận: Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với nhau, không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.

Các bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để các bị cáo có điều kiện cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai người làm chứng, phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát và còn được chứng minh bằng các tài liệu như:

    • Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu; các biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập hồi 23 giờ 10 phút ngày 22/12/2024; 01 giờ 35 phút, 02 giờ 05 phút, 02 giờ 20 phút, 02 giờ 30 phút ngày 23/12/2024 tại nhà thờ họ V1, thôn V, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (bút lục số 01-09);
    • Biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường (kèm bản ảnh) do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình lập hồi 14 giờ ngày 31/12/2024 và sơ đồ vị trí ngồi đánh bạc các bị cáo tự mô tả (bút lục số 133-143);
    • Kết luận giám định số 1961/KL-KTHS, ngày 07/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh T, xác định 9.500.000 đồng (105 tờ tiền) các bị cáo sử dụng đánh bạc bị quản lý, thu giữ là tiền thật (bút lục số 121-122);

    Cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 20 giờ đến 23 giờ ngày 22/12/2024, tại nhà thờ họ V1, ở thôn V, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, các bị cáo Vũ Văn T, Vũ Quốc H2, Vũ Văn M1, Vũ Thái H1 và Nguyễn Văn N cùng thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “liêng” với số tiền đánh bạc 9.500.000 đồng, bị Công an huyện Q phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

    Hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc”, được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ.

    Điều 321. Tội đánh bạc

    “1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

    3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”

  3. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo cho thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý của nhà nước về trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội và dư luận bất bình trong quần chúng Nhân dân. Vì vậy Hội đồng xét xử cần phải lên một mức án phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội cũng như việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

  4. Xét về vai trò, hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án cho thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo phạm tội mang tính chất bộc phát. Do các bị cáo có quan hệ nội tộc, là anh em trong gia đình, dòng họ, đến N1 mộ cụ, tại đây bị cáo T đã rủ và cùng các bị cáo H1, H2, N, M1 đánh bạc. Giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công, phân nhiệm, nhưng vai trò thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo có sự khác nhau, vì vậy cần phải xem xét hành vi, vai trò và số tiền dùng đánh bạc cũng như nhân thân của từng bị cáo để xét xử và tuyên mức hình phạt cho phù hợp. Đối với bị cáo T và bị cáo H1 tham gia đánh bạc có số tiền dùng đánh bạc nhiều nhất vụ án khoảng 4.000.000 đồng, nhưng bị cáo T là người rủ các bị cáo khác đánh bạc và lấy bộ bài có sẵn tại nhà thờ để dùng đánh bạc, vì vậy cần xếp vai trò và mức hình phạt của bị cáo T cao nhất trong vụ án, bị cáo H1 cần xếp vai trò và mức hình phạt đứng thứ hai trong vụ án. Đối với bị cáo H2, N, M1 tham gia đánh bạc, có số tiền đánh bạc thấp hơn (bị cáo H2 830.000 đồng, bị cáo N 450.000 đồng, bị cáo M1 380.000 đồng), vì vậy cần xếp vai trò và mức án của bị cáo H2, N, M1 ngang nhau và thấp hơn T và H1.

  5. Xét về tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng và nhân thân của các bị cáo cho thấy: Các bị cáo có nhân thân tốt. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo H1, N và M1 đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Vì vậy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo; áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo H1, N, M1. Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

  6. Về quyết định hình phạt: Từ những phân tích nêu trên, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có nơi cư trú ổn định rõ ràng, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có snhiều tình tiết giảm nhẹ, vì vậy không cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo và bảo đảm mục đích hình phạt nói chung.

  7. Về hành phạt bổ sung: Do áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

  8. Nhà thờ họ Vũ V được giao cho bà Vũ Thị L1 quản lý. Ngày 22/12/2024, bà L1 mở cửa để con cháu đến thắp hương, dự liên hoan khánh thành mộ cụ. Bà L1 không hứa hẹn và cung không biết các bị cáo đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã không xử lý là đúng pháp luật.

  9. Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra quản lý số tiền 9.500.000 đồng là tiền các bị cáo dùng vào đánh bạc nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước; đối với bộ bài tú lơ khơ 52 lá là công cụ phạm tội nên cần tịch thu để tiêu hủy là phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  10. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

  11. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T, Vũ Thái H1, Vũ Quốc H2, Nguyễn Văn N và Vũ Văn M1 phạm tội “Đánh bạc”.

    • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự.
    • Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
    • Xử phạt bị cáo Vũ Quốc H2 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự.
    • Xử phạt bị cáo Vũ Thái H1 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
    • Xử phạt bị cáo Vũ Văn M1 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    • - Tịch thu để tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá.
    • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 9.500.000 đồng.

    (Vật chứng và số tiền trên có đặc điểm như biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ đang quản lý).

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Vũ Văn T, Vũ Thái H1, Vũ Quốc H2, Nguyễn Văn N và Vũ Văn M1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Sở tư pháp Thái Bình;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - TAND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND huyện Quỳnh Phụ;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Quỳnh Phụ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

NGUYỄN MINH ĐỨC

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2025/HS-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH về hình sự - tội đánh bạc

  • Số bản án: 40/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn T cùng đồng phạm đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger