Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH ĐẠI

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 40/2025/DS-ST

Ngày: 04/4/2025

“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thùy Dung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Văn Hoàng; Ông Bùi Tuấn Khanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 578/2024/TLST-DS ngày 30 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 70/2025/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 65/2025/QĐST-DS ngày 17 tháng 3 năm 2025, giữa:

  1. Nguyên đơn: Ông Đặng Trần Ngọc L, sinh năm 1991; Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre.

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đặng Hữu B, sinh năm 1963; Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre (theo văn bản ủy quyền ngày 05/9/2024).

  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thế H, sinh năm: 1993; Địa chỉ: Ấp R, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre.

    (Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/8/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Đặng Trần Ngọc L và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Đặng Hữu B cùng ý kiến trình bày:

Ông Đặng Trần Ngọc L và ông Nguyễn Thế H là đồng nghiệp, cùng nơi công tác. Vào ngày 01/4/2023, ông L có cho ông H mượn số tiền 300.000.0000 đồng, không tính lãi để ông H phục vụ nhu cầu công việc cá nhân. Cùng ngày 01/4/2023, ông H có viết giấy mượn tiền để làm tin và cam kết đến ngày 08/4/2023 sẽ thanh toán đầy đủ số tiền 300.000.0000 đồng cho ông L nhưng đến ngày 08/4/2023 ông H không thanh toán. Số tiền 300.000.0000 đồng nêu trên là do ông L mượn của cha mẹ, bạn bè để giúp đỡ ông H nhưng ông H thất hứa làm ảnh hưởng đến uy tín của ông L. Mặc dù ông L nhiều lần liên hệ để yêu cầu ông H trả lại số tiền 300.000.0000 đồng nhưng đến nay ông H vẫn chưa thanh toán.

Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Thế H có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 300.000.000 đồng, yêu cầu tính lãi từ ngày 01/4/2023 đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án với mức lãi suất 0,83%/tháng

Do bận công việc nên phía nguyên đơn yêu cầu Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và cam đoan không khiếu nại về sau.

Bị đơn ông Nguyễn Thế H vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nên không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Ông Đặng Trần Ngọc L khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Thế H (nơi cư trú tại ấp R, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre) phải có nghĩa vụ trả tiền cho ông L. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

[1.2] Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông là ông Đặng Hữu B vắng mặt tại phiên tòa, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Nguyễn Thế H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Đặng Hữu B và ông Nguyễn Thế H.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét chứng cứ là viết tay có tiêu đề “Giấy mượn tiền” đề ngày 01/4/2023 có nội dung thể hiện ông Nguyễn Thế H có mượn của ông Đặng Trần Ngọc L số tiền là 300.000.000 đồng và cam kết đến ngày 08/4/2023 sẽ thanh toán đủ số tiền đã mượn cho ông H. Ở phía cuối giấy tay, tại mục “Người mượn tiền” có chữ ký và chữ viết họ tên “Nguyễn Thế H”.

Theo “Giấy mượn tiền” đề ngày 01/4/2023 nêu trên thể hiện bị đơn ông Nguyễn Thế H có địa chỉ tại ấp R, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre; đồng thời, tại xác nhận ngày 17/10/2024 của Công an xã P cũng có nội dung xác nhận ông Nguyễn Thế H có đăng ký thường trú tại ấp R, xã P và hiện còn đang sinh sống tại địa phương. Vì vậy, Đơn khởi kiện đề ngày 29/8/2024 của ông Đặng Trần Ngọc L đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ cư trú của bị đơn theo quy định tại khoản 4 Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 5 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Bình Đại đã tiến hành các thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cũng như thông báo về những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự cho ông Nguyễn Thế H nhưng ông H đều không có mặt tại địa chỉ nêu trên và cũng không thông báo cho nguyên đơn về địa chỉ cư trú mới. Trường hợp này được xác định là bị đơn cố tính giấu địa chỉ, Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung quy định tại điểm a khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Do các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được Tòa án thông báo hợp lệ cho ông Nguyễn Thế H nhưng ông H không có ý kiến phản đối xem như đã mặc nhiên thừa nhận những chứng cứ này. Căn cứ quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là những tình tiết không phải chứng minh và được sử dụng để làm cơ sở giải quyết vụ án.

[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Căn cứ “Giấy mượn tiền” đề ngày 01/4/2023 nêu trên có cơ sở xác định giữa ông Nguyễn Thế H với ông Đặng Trần Ngọc L tồn tại hợp đồng vay có thời hạn và không có lãi. Do đến hạn trả tiền mà ông H không thực hiện như cam kết nên ông L khởi kiện yêu cầu ông H phải trả số tiền nợ 300.000.000 đồng là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được chấp nhận. Từ đó, buộc ông Nguyễn Thế H có nghĩa vụ trả cho ông ông Đặng Trần Ngọc L số tiền nợ là 300.000.000 đồng.

Về lãi suất:

Về thời điểm yêu cầu tính lãi: Tại khoản 4 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hẹn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”. Do đó, trong vụ án này, thời điểm bắt đầu tính lãi là ngày đến hạn trả nợ mà ông H không trả (tức ngày 08/4/2023), việc ông L yêu cầu tính lãi từ ngày 01/4/2023 đến khi Tòa án giải quyết xong vụ là không phù hợp với quy định nêu, vì vậy, đối với khoảng thời gian ông L yêu cầu tính lãi từ ngày 01/4/2023 đến ngày 07/4/2023 là không được chấp nhận.

Về mức lãi suất ông L yêu cầu là 0,83%/tháng là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 466, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.

Theo đó, lãi suất được tính như sau: 300.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 23 tháng 26 ngày (tính từ ngày 08/4/2023 đến ngày xét xử là ngày 04/4/2025) = 59.428.000 đồng.

Như vậy, tổng cộng tiền nợ gốc và lãi ông Nguyễn Thế H có nghĩa vụ phải trả cho ông Đặng Trần Ngọc L là: 300.000.000 đồng + 59.428.000 đồng = 359.428.000 đồng.

Xét một phần yêu cầu khởi kiện về việc tính lãi của ông Đặng Trần Ngọc L không được chấp nhận là: 300.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 07 ngày (tính từ ngày 01/4/2023 đến ngày xét xử là ngày 08/4/2023) = 581.000 đồng.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Đặng Trần Ngọc L phải chịu án phí đối với phần yêu cầu không được chấp nhận với số tiền 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre trả lại cho ông Đặng Trần Ngọc L số tiền chênh lệch đã nộp.

Ông Nguyễn Thế H phải chịu án phí đối với phần yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận với số tiền được tính là: 5% x 359.428.000 đồng = 17.971.400 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng các điều 105, 116, 117, 357, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 5, Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Trần Ngọc L đối với bị đơn ông Nguyễn Thế H về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

    Buộc ông Nguyễn Thế H có nghĩa vụ trả cho ông Đặng Trần Ngọc L số tiền 359.428.000 (ba trăm năm mươi chín triệu bốn trăm hai mươi tám) đồng, trong đó gồm 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng tiền nợ gốc và 59.428.000 (năm mươi chín triệu bốn trăm hai mươi tám) đồng tiền nợ lãi.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Trần Ngọc L đối với ông Nguyễn Thế H về việc yêu cầu trả số tiền lãi là 581.000 (năm trăm tám mươi mốt nghìn) đồng.
  3. Án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông Đặng Trần Ngọc L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.558.250 (tám triệu năm trăm năm mươi tám nghìn hai trăm năm mươi) đồng theo biên lai thu số 0008105 ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Trả lại cho ông Đặng Trần Ngọc L số tiền chênh lệch là 8.258.250 (tám triệu hai trăm năm mươi tám nghìn hai trăm năm mươi) đồng.

    Ông Nguyễn Thế H phải chịu 17.971.400 (mười bảy triệu chín trăm bảy mươi mốt nghìn bốn trăm) đồng và còn phải nộp đủ số tiền này.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Bình Đại;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Đại;
  • - TAND tỉnh Bến Tre (Phòng TT, KT&THA);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thùy Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2025/DS-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 40/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa ông Đặng Trần Ngọc L và ông Nguyễn Thế H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger